Chẩn đoán
-
- Lâm sàng
- Hoàn cảnh khởi phát
- Lâm sàng
Nguyên nhân phổ biến nhất của thoái hóa sụn khớp gối là do tuổi tác. Chính vì khả năng tự chữa lành của sụn giảm dần theo thời gian nên hầu hết mọi người khi lớn tuổi đều sẽ bị thoái hóa khớp. Tuy nhiên, có một số yếu tố khiến khớp bị thoái hóa ở độ tuổi sớm hơn, đó là:
Cân nặng
Khi cơ thể bạn bị thừa cân – béo phì, tải trọng lớn sẽ làm tăng áp lực lên tất cả các khớp, đặc biệt là đầu gối. Nghiên cứu cho thấy mỗi khi bạn tăng 0,45kg cân nặng thì sẽ đồng thời làm tăng 1,35 – 1,8kg trọng lượng trên đầu gối.
Di truyền
Yếu tố này bao gồm các đột biến di truyền (khiến một người có nhiều khả năng bị viêm xương khớp ở đầu gối dù tuổi còn trẻ) và hình dạng bất thường của xương bao quanh khớp gối (khiến sụn khớp dễ bị thoái hóa sớm).
Giới tính
Phụ nữ từ 55 tuổi trở lên có nhiều khả năng bị thoái hóa ở khớp gối hơn nam giới.
Chấn thương vùng gối lặp đi lặp lại
Những người thường xuyên thực hiện các động tác gây áp lực cho khớp, chẳng hạn như quỳ, ngồi xổm hoặc nâng vật nặng (25kg trở lên), có nguy cơ bị thoái hóa khớp cao hơn.
Vận động viên thể thao
Những người chơi bóng đá, quần vợt, điền kinh – các bộ môn đòi hỏi vận động khớp gối nhiều – có nguy cơ cao bị suy yếu khớp gối. Nguy cơ này sẽ cao hơn nữa nếu vận động viên gặp phải chấn thương trong lúc tập luyện.
Một số bệnh cơ xương khớp khác
Những người bị viêm khớp dạng thấp – loại viêm khớp phổ biến thứ hai – có nhiều khả năng cũng bị thoái hóa khớp. Bên cạnh đó, các bệnh nhân bị một số rối loạn chuyển hóa, chẳng hạn như thừa sắt hoặc dư thừa hormone tăng trưởng, cũng dễ mắc bệnh thoái hóa khớp.
- Các triệu chứng
– Các dấu hiệu thường gặp bao gồm đau khớp, cứng khớp và giảm vận động: Là biểu hiện sớm và phổ biến của thoái hóa khớp. Người bệnh đau chủ yếu khi vận động, giảm khi nghỉ ngơi. Khi thoái hóa khớp tiến triển hoặc ở giai đoạn nặng người bệnh có biểu hiện đau về đêm và sáng hoặc đau liên tục. Đôi khi người bệnh có thể thấy khớp sưng khi có tràn dịch trong khớp nhưng không nóng đỏ.
– Cứng khớp thường xuất hiện vào buổi sáng sớm khi người bệnh mới ngủ dậy hoặc sau khi nghỉ ngơi kéo dài. Thời gian cứng khớp càng dài thể hiện tình trạng thoái hóa khớp càng nặng. Tuy nhiên, khi cứng khớp kéo dài cần tìm các nguyên nhân khác có thể gây thoái hóa khớp thứ phát.
– Giảm vận động do đau, cứng khớp, hẹp khe khớp, tổn thương dây chằng và các thành phần khác của khớp, gây ảnh hưởng đến khả năng lao động, chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Người bệnh có thể thấy khớp không co duỗi được hết tầm như trước. Khi đi lại vận động thấy đau nhiều nên ít vận động hơn.
– Lục cục khớp: Người bệnh có thể thấy tiếng khớp kêu lục cục khi đi lại. Tiếng lục cục có thể phát hiện trước cả khi người bệnh xuất hiện triệu chứng đau.
- Cận lâm sàng
– Các phương pháp thăm dò hình ảnh chẩn đoán.
- Xquang qui ước: Tiêu chuẩn chẩn đoán thoái hoá khớp của Kellgren và Lawrence:
- Giai đoạn 1: Gai xương nhỏ hoặc nghi ngờ có gai xương.
- Giai đoạn 2: Mọc gai xương rõ.
- Giai đoạn 3: Hẹp khe khớp vừa.
- Giai đoạn 4: Hẹp khe khớp nhiều kèm xơ xương dưới sụn.
- Siêu âm khớp: đánh giá tình trạng hẹp khe khớp, gai xương, tràn dịch khớp, đo độ dày sụn khớp, màng hoạt dịch khớp, phát hiện các mảnh sụn thoái hóa bong vào trong ổ khớp.
- Chụp cộng hưởng từ (MRI): phương pháp này có thể quan sát được hình ảnh khớp một cách đầy đủ trong không gian ba chiều, phát hiện được các tổn thương sụn khớp, dây chằng, màng hoạt dịch.
- Nội soi khớp: phương pháp nội soi khớp quan sát trực tiếp được các tổn thương thoái hoá của sụn khớp ở các mức độ khác nhau (theo Outbright chia bốn độ), qua nội soi khớp kết hợp sinh thiết màng hoạt dịch để làm xét nghiệm tế bào chẩn đoán phân biệt với các bệnh lý khớp khác.
– Các xét nghiệm khác:
- Xét nghiệm máu và sinh hoá: Tốc độ lắng máu bình thường.
- Dịch khớp: Đếm tế bào dịch khớp < 1000 tế bào/1mm3.
- Chẩn đoán xác định
Áp dụng tiêu chuẩn chẩn đoán của Hội thấp khớp học Mỹ-ACR (American College of Rheumatology), 1991.
- Có gai xương ở rìa khớp (trên Xquang).
- Dịch khớp là dịch thoái hoá.
- Tuổi trên
- Cứng khớp dưới 30 phút.
- Có dấu hiệu lục khục khi cử động khớp.
Chẩn đoán xác định khi có yếu tố 1,2,3,4 hoặc 1,2,5 hoặc 1,4,5.
- Các dấu hiệu khác:
- Tràn dịch khớp: đôi khi thấy ở khớp gối, do phản ứng viêm của màng hoạt dịch.
- Biến dạng: do xuất hiện các gai xương, do lệch trục khớp hoặc thoát vị màng hoạt dịch. Điều trị
- Nguyên tắc điều trị
- Giảm đau trong các đợt tiến triển.
- Phục hồi chức năng vận động của khớp, hạn chế và ngăn ngừa biến dạng khớp.
- Tránh các tác dụng không mong muốn của thuốc, lưu ý tương tác thuốc và các bệnh kết hợp ở người cao tuổi.
- Nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh.
