Điều trị
- Nguyên tắc điều trị
- Điều trị cụ thể
* Trúng phong kinh lạc
– Mạch lạc hư trống, phong tà xâm nhập:
- Pháp trị: khứ phong, thông lạc, hoạt huyết, hòa vinh
- Bài thuốc: Khiên Chính Tán (Dương thị Gia tàng) hoặc Tần Cửu Thang Gia Giảm (Bảo mệnh Tập)
Bạch phụ tử, Cương tằm, Toàn yết, lượng bằng nhau. Tán bột, thêm Kinh giới, Phòng phong, Bạch chỉ, Hồng hoa. Mỗi lần dùng 4g với rượu nóng.
(Bạch phụ tử tán phong tà ở vùng đầu mặt, Cương tầm khứ phong đàm. Toàn yết tức phong trấn kinh, 2 vị này hợp lại có tác dụng sưu phong, thông lạc. Bạch chỉ để tán phong, khử tà, Hồng hoa hoạt huyết hóa ứ).
hoặc dùng bài Tần Cửu Thang Gia Giảm (Bảo mệnh Tập): Tần cửu, Khương
hoạt, Phòng phong, Bạch chỉ, Đương quy, Xích thược, Xuyên khung, Bạch phụ tử, Toàn yết, Tế tân.
Sắc uống, bã thuốc có thể cho vào túi vải, đắp nóng, chỗ đau.
Dùng tần cửu, Khương hoạt, Phòng phong, Bạch chỉ để giải biểu tán phong, Phụ tử, Toàn yết khư phong đảm, thông kinh lạc, Xích thược, Xuyên khung dưỡng
huyết, Tế tân khư phong
– Can dương cang thịnh
- Pháp trị: Dưỡng âm, nuôi dưỡng, trấn can tức phong,
- Bài thuốc: Trấn Can Tức Phong (Trung Tham Tây Lục)
Ngưu tất 40g, Giả thạch (sống) 40g, Long cốt (sống) 20g, Mẫu lệ (sống) 40g, Quy bản 20g Bạch thược (sống) 20g, Mạch nha (sống) 8g, Xuyên luyện tử 8g, Thiên môn 20g, Huyền sâm 20g, Thanh hao 8g, Cam thảo 6g. Thêm Cau đằng, Cúc hoa * sắc uống, ngày 1 thang.
Bài này dùng lượng lớn Ngưu tất, Đại giả thạch để dẫn huyết đi xuống, bình giáng khí nghịch; Long cốt, Mẫu lệ, Quy bản, Thược dược để tiểm dương, nhiếp âm, trấn Can, tức phong; Huyền sâm, Thiên môn để tư âm giáng hoả; Thanh hao, Mạch nha (dùng sống) để lý khí; Xuyên luyện tử để sơ Can lý khí; Cam thảo hoãn cấp, hoà trung, là các thuốc hỗ trợ để tiết Can, điều Can, hoãn Can, giúp cho Can được bình giáng; Câu đằng, Cúc hoa tức phong, thanh nhiệt.
– Phong đàm trệ lạc
- Pháp trị: trừ đàm thông lạc, tức phong, kiện tỳ
- Bài thuốc: Đạo Đàm Thang gia giảm hoặc Hy Thiêm Chí Dương Thang
Bán hạ chế 8g, Chỉ thực 8g, Phục linh 8g, Toàn yết 4g, Trần bì 6g, Cương tàm 8g, Cam thảo 6g, Bạch truật 12g, Đởm nam tinh 8g, Đào nhân 12g. hoặc dùng Hy Thiêm Chí Dương Thang: Hy thiêm thảo (cửu chế) 68g, Hoàng kỳ 20g, Nam tinh 12g, Bạch phụ tử 12g, Xuyên phụ phiến 12g, Xuyên khung 6g, Hồng hoa 6g, Tế tân 2,8g, Phòng phong 12g, Ngưu tất 12g, Tô mộc 12g, Cương tằm 6g. Sắc uống.
– Khí hư huyết ứ
- Pháp trị: Ích khí không kết, hoạt huyết, hóa ứ,
- Bài thuốc: Bổ Dưỡng Hoàn Ngũ Thang (Y Lâm Cải Thác)
Hoàng kỳ 40-160g, Quy vĩ 8g, Xích thược 6g, Địa long 4g, Xuyên khung 4g, Đào nhân 4g, Hồng hoa 4g. Sắc uống.
Dùng Hoàng kỳ (sống) với lượng nhiều thì lực chuyên mà tính tẩu, đại bổ nguyên khí, đưa thuốc đi tới toàn thân trị chứng liệt, hợp với Quy vĩ, Xích thược, Địa long, Xuyên khung, Đào nhân, Hồng hoa là các vị thuốc hoạt huyết, khứ ứ. Sách Thiên Gia Diệu Phương dùng bài Bổ Dương Hoàn Vũ Thang Gia Vị: Hoàng kỳ 40g, Xích thược 16g, Xuyên khung 8g, Qui vĩ 12g, Địa long 12g, Đào nhân 12g, Hồng hoa 12g, Bạch phụ tử 12g, Cương tằm 20g, Toàn yết 15 con, sắc uống. hoặc Bổ Dương Hoàn Ngũ Thang Gia Giảm: Hoàng kỳ 40g, Quy vĩ 20g, Xuyên khung 12g, Xích thược 16g, Hồng hoa 8g, Đào nhân 8g, Địa long 12g, Tang ký sinh 40g, Kê huyết đằng 28g, Đan sâm 20g, Ngô công 1 con, Tiêu tra 20g, Uống khoảng 10-20g thang, cho thêm Mã tiền tử chế vào. Nếu dùng Mã tiền tử sớm, hiệu quả sẽ không tốt.
– Âm hư phong động
- Pháp trị: Tư âm, tiểu dương,hóa đàm thông kết.
- Bài thuốc: Thiên Ma Câu Đằng Ẩm (Tạp Bịnh Chứng Trị Tân Nghĩa)
Thiên ma 8g, Câu đằng 16g, Đỗ trọng 16g, Ngưu tất 12g, Tang ký sinh 12g, ích mẫu 12g, Dạ giao đằng 20g, Thạch quyết minh 20g, Hoàng cầm 12g, Sơn chi 12g, Phục thần 12g, Sắc uống. (Thiên ma, Câu đằng, Thạch quyết minh bình Can dương, tức Can phong; Sơn chi, Hoàng cầm tiết Can hỏa; Tang ký sinh, Đỗ trọng, Ngưu tất bổ Thận âm, dưỡng Can huyết, thông lạc; Dạ giao đằng, Phục thần dưỡng huyết an thần.) Sách Thiên Gia Diệu Phương dùng bài Khổ Tân Hàm Giáng Thang: Thạch cao 40g, Hoạt thạch 68g, Hàn thủy thạch 40g, Tử thạch 40g, Mẫu lệ 40g, Thạch quyết minh 40g, Linh dương giác 6g, Câu đằng 20g, Bối mẫu 12g, Tân bì 20g Thảo quyết minh 24g, Tật lê 24g. Sau khi sắc cho thêm 20ml Trúc lịch, 10ml gừng, quấy đều, uống với 4g Chí bảo đơn.
* Trúng phong tạng phủ
– Dương bế
- Pháp trị: Khai khiếu thanh Can, tức phong, dùng thuốc cay, mát
- Bài thuốc: CHÍ BẢO ĐƠN (cậy miệng cho uống hoặc thổi vào mũi để khai khiếu) rồi dùng bài Linh Dương Giác thang gia giảm để thanh can tức phong, nuôi âm giữ dương.( sách nội khoa học Thượng Hải)
- Chí Bảo Đơn (Hòa Tể Cục Phương): Nhân sâm 40g, Chu sa 40g, Tê giác 40g, Hổ phách 40g, Nam tinh (chế) 20g, Thiên trúc hoàng 40g, Băng phiến 40g, Hùng hoàng 40g, Ngưu hoàng 20g, Đại mại 40g, Xạ hương 4g
Linh Dương Giác Thang (Y Thuần Thặng Nghĩa): Linh dương giác 6g, Quy bản 24g, Đại giả thạch 18g, Thạch quyết minh 24g, Bạch thược 4g, Sài hồ 4g, Bạc hà 4g, Hồng táo 10 trái, Hạ khô thảo 4g, Cúc hoa 6g, Đan bì 4g, Thuyền thoái 4g, Sắc uống.
Linh dương giác, Cúc hoa, Hạ khô thảo để thanh can tức phong, Bạch thược, Quy bản để dưỡng âm. Đan bì lương huyết thanh nhiệt. Đại giả thạch để giữ dương. Sài hồ sơ can. Bạc hà khu phong, Thuyền thoái thông khiếu.
- Hoặc theo sách Nội khoa học Thành Đô: Bình can, khai khiếu, sử dụng thuốc mát, dùng Chí Bảo Đơn (như trên), sau đó cho uống bài: Linh Giác Câu Đằng Thang (Thông Tục Thương Hàn Luận): Linh giác phiến 6g (nấu trước), Xuyên bối (bỏ lõi) 12g, Song câu đằng 8g (nấu sau), Cúc hoa 8g, Phục thần 8g, Bạch thược 8g, Tang diệp 6g, Sinh địa 16g, Cam thảo 2g, thêm Trúc nhự 16- sắc uống.
Linh dương giác, Câu đằng thanh nhiệt, lương can, tức phong, chỉ kinh. Tang diệp. Cúc hoa hỗ trợ tác dụng thanh nhiệt, tức phong, Bạch thược, Sinh địa dưỡng âm, tăng dịch để bình can. Bối mẫu, Trúc nhự để thanh nhiệt, hóa đờm (do nhiệt nung đốt tân dịch hóa thành đàm), Phục thần để bình tâm, an thần, Cam thảo điều hòa các vị thuốc.
– Âm bế
- Pháp trị: Tân ôn khai khiếu, trừ đàm tức
- Bài thuốc: Tô Hợp Hương Hoàn mài ra với nước nóng cho uống gấp hoặc thổi vào mũi để khai khiếu, sau đó dùng bài Địch Đàm Thang( sách nội khoa học Thượng Hải)
Tô Hợp Hương Hoàn (Hòa Tễ Cục Phương): Chu sa 40g, Mộc hương 40g, Kha tử nhục 40g, Tê giác 40g, Băng phiến 20g, Hương phụ 40g, Xạ hương 30g, Tỳ bạt 40g, Trầm hương 40g, Đàn hương 40g, Đinh hương 40g. Trừ băng phiến và Xạ hương, các vị kia tán bột trộn đều, thêm Băng phiến và Xạ hương vào, rồi cho dầu Tô hợp hương 40g và mật ong hơi âm ấm, quấy đều làm thành viên, mỗi viên 4 g. Ngày dùng 1 viên, chia 2 lần, uống hoặc thổi vào mũi.
Địch Đàm Thang (Kỳ Hiệu Lương Phương): Nam tinh (chế gừng) 4g, Bán hạ (tẩy nước sôi 7 lần) 4g, Phục linh (bỏ vỏ) 8g, Thạch xương bồ 2,8g, Nhân sâm 4g, Chỉ thực 8g, Quất hồng 6g, Trúc nhự 2,8g, Cam thảo 2g, Thêm gừng 5 lát, sắc uống.
Bán hạ, Trúc nhự, Phục linh trừ đàm hỏa thấp, Xương bồ, Nam tinh khai khiếu, lợi đàm. Chỉ thực giáng khí, hòa t rung. Thêm Thiên ma, Câu đằng để bình can tức phong.
- Sách Nội Khoa Học Thành Đô: Bình can khai bế, tức phong hóa đàm. Dùng bài Tô hợp Hương Hoàn và Dịch đàm thang giống trên
– Chứng thoát:
- Pháp trị: phù chính, cố thoát, ích khí
- Bài thuốc: Sâm phụ thang để hồi dương cứu nghịch.( sách nội khoa học Thượng Hải)
Sau khi hồi dương nếu người bệnh mặt đỏ, chân lạnh, bứt rứt không yên, mạch nhược hoặc thình lình mạch mạnh lên là do chân âm hư tổn, dương không có chỗ dựa vì vậy hư dương trổi lên muốn thoát. Nên dùng bài Địa hoàng Âm tử gia vị để bổ dưỡng âm, ôn bổ thận dương để hồi dương cố thoát.
Sâm Phụ Thang (Theo Y Đắc Hiệu): Nhân sâm 16g, Phụ tử (chế) 8-12g, (bịnh nặng có thể dùng liều gấp đôi).
Nhân sâm đại bổ nguyên khí, Phụ tử ôn tráng chân dương. 2 vị ghép với nhau làm hưng phấn dương (Ích khí, cố thoát).
Địa Hoàng âm Tử (Tuyên Minh Luận): Địa hoàng 40g, Ba kích 12g, Thạch hộc 12g, Bạch linh 12g, Sơn thủy 12g, Mạch môn 12g, Viễn chí 8g, Ngũ vị tử 4g, Phụ tử (nướng) 8g, Nhục thung dung 8g, Xương bồ 8g, Nhục quế 4g.
Địa hoàng, Ba kích, Sơn thủy, Nhục thung dung, để đại bổ thận, tinh không đủ, hợp với Phụ tử, Nhục quế để dẫn hỏa quy nguyên, dùng Ngũ vị tử để liêm Aâm, cố thoát. Vì trúng phong làm lưỡi cứng, nói khó hoặc cấm khẩu thường do môi lưỡi bị khô táo mà học có đàm, vì vậy dùng mạch môn, Thạch hộc để dưỡng dịch, sinh tân và hạn chế bớt tính cương táo của Phụ tử và Nhục quế, lại dùng Xương bồ, Viễn chí, Phục linh để thông tâm khí mà thanh thần chí, hóa đàm trọc để khai phế.
- Các phương pháp điều trị khác (nếu có)
- Hào châm
Châm cứu trị liệt nửa người (Trúng Phong). Châm cứu học Thượng Hải:
+ Chứng Bế: Nếu nặng phải khai khiếu, tiết nhiệt, giáng khí.
Châm kích thích tương đối mạch các huyệt Nhân trung, Kiên tĩnh, Dũng tuyển, Lao cung, Phong trì, Nội quan, Hợp cốc.
+ Chứng thoát: Hồi dương cố thoát, nếu nhẹ thì sơ thông kinh khí, hoạt huyết, khứ phong.
Châm nhẹ các huyệt Nhân trung, Kiên tĩnh, Dũng tuyền, Lao cung, Phong trì, Nội quan, Hợp cốc.
- Nếu dương khí muốn thoát, dùng Ngải (viên lớn) cứu tại huyệt Khí hải, Quan nguyên, Túc tam lý.
- Nếu miệng nhạt, mặt đỏ, vật vã, tiểu đỏ, đại tiện bí mạch hồng sác là hỏa vượng thêm Đại lăng, Hành gian, Thiên xu, Thượng cự hư.
- Nếu chân tay lạnh ra mồ hôi, mạch vi muốn tuyệt là nguyên khí muốn thoát có thể cứu thêm Đản trung, Thận du, Mệnh môn.
- Nếu đầu đau nhiều, choáng váng chân tay co quắp là Can phong nội động, thêm
Thái xung, Dương lăng tuyền.
- Nếu đàm nhiều, ngực bụng đầu, phiền, tay chân nặng, rêu lưỡi đầy nhớt, mạch huyền hoạt là đàm thịnh, thêm Thiên độc, Phong long, Nội quan.
Điều trị di chứng:
+ Chi trên liệt: Kiên ngung, Khúc trì, Hợp cốc, Ngoại quan, thêm Kiên liêu, Thủ tam lý, Dương trì, Trung chử (Châm Khúc trì có thể thấu Thiếu hải, Hợp cốc có thể thấu Hậu khê).
+ Chi dưới liệt: Hoàn khiêu, Phong thị, Dương lăng tuyền, Huyền chung, Giải khê, Củ nội phiên, Củ ngoại phiên, Túc tam lý, Côn lôn, Thái xung, Túc lâm khấp, Kinh cốt.
+ Liệt mặt (mắt lệch, miệng méo): Ế phong, Địa thương, Tứ bạch, Giáp xa, Hợp cốc, Khiên chính thêm Toàn trúc, Dương bạch, Nhân trung, Địa thương, Tứ bạch, Giáp xa, Hợp cốc, Khiên chính thêm Toàn trúc, Dương bạch, Nhân trung, Quyền liêu, Giáp (Hiệp) thừa tương.
(Châm Tứ bạch nên chân thẳng hoặc chân xiên từ trên xuống, Địa thương có thể thấu Giáp xa, Dương bạch có thấu Ngư yêu).
+ Lưỡi cứng, nói khó: Thượng liêm tuyền, Thông lý, thêm Thiên đột, Á môn, Chiếu hải (châm Thiên đột đừng sâu quá- châm Á môn mũi kim phải hơi hướng xuống).
Ý nghĩa: Trúng phong thể bế chứng là do hỏa tích tụ, vì vậy dùng 12 Tỉnh huyệt để thanh tiết dương tả, thêm Nhân trung là huyệt của Mạch đốc với kinh Thủ và Túc dương minh có thể làm cho âm dương giao thông, khai khiếu tiết nhiệt.
Dũng tuyền là huyệt Tỉnh của Túc thiếu âm làm khí hỏa giáng xuống, Lao cung là huyệt Vinh của kinh tâm bào, Nội quan là huyệt Lạc của kinh Tâm bào có thể thanh tâm bài tiết nhiệt. Phong trì sơ phong tiết nhiệt, thêm Hợp cốc để tiết nhiệt ở Dương minh.
Trúng phong thể chứng thoát là nguyên khí suy kiệt, dương khí bị thoát, vì thế dùng Quan nguyên, Khí hải để bồi bổ nguyên khí, Túc tam lý để bồi dưỡng trung tiêu. Hỏa thịnh dùng Đại lăng, Hành gian để thanh tiết hỏa khí của hai kinh Tâm bào và Can. Thiên xu. Thượng cự hư, để khử tính uế của Đại trường, Thanh tả nhiệt của Dương minh. Khí suyễn thì dùng thêm Đản trung để bình suyễn, thêm Thận du, Mệnh môn để bổ ích thận dương. Can phong thêm Thái xung, Dương lăng tuyền để thanh tiết phong dương của Can, Đởm. Đàm thịnh dùng Thiên đột để giáng lợi đàm ở họng. Phong long, Nội quan để khử đàm, khoan hung. Lưỡi cứng dùng Thượng liêm tuyền theo kinh nghiệm hiện nay, thêm Thông lý, Á môn để thanh tâm thần mà khai khiếu, thêm Chiếu hải để hỗ trợ tác dụng các huyệt trên (vì đây là huyệt Hội của Túc Thiếu âm và Âm kiều mạch).
+ Bách hội, Kiên tĩnh Phong thị, Tam lý, Tuyệt cốt, Khúc trì, mỗi huyệt cứu 3 tráng, Bách hội 50 tráng (Tư Sinh Kinh).
+ Dùng kim Tam lăng châm ra máu 12 huyệt Tỉnh (Càn Khôn Sinh Ý).
Hợp cốc xuyên Lao cung, Dưỡng lão, Thần môn, Nội quan Thấu Ngoại quan, Tý trung, Thủ tam lý, Kiên tam châm (Kiên ngung, Kiên tiền, Kiên hậu), Thận tích, Hoàn khiêu, Ân môn, Phục thố, Thừa sơn, Dương lăng tuyền xuyên Âm lăng tuyền, Phong thị, Kiện tất, Túc tam lý, Tam âm giao, Tuyệt cốt, Côn lôn, Thái khê, Lý thượng, An miên, Phong trì, Chọn vài huyệt ở đầu và chi trên, chi dưới, thay đổi xử dụng. 10-15 ngày làm 1 liệu trình, 2 liệu trình cách nhau 3-5 ngày (Biển Thước Thần Ứng Châm Cứu Ngọc Long Kinh).
+ Chứng bế: Kích thích mạnh, không lưu kim: Nhân trung, Thập tuyên, Thái xung, Phong long, Bách hội, Dũng tuyền.
Chứng thoát: Cứu Thần khuyết, Quan nguyên.
Liệt nửa người: Chi trên: Định suyễn, Ngoại quan, Khúc trì, Hợp cốc. Chi dưới, Thận du, Đại trường du, Hoàn khiêu, Ân môn, Phong thị, Dương lăng tuyền, Huyền chung, Giải khê.
Không nói được: Liêm tuyền, Á môn, Thông lý.
Mặt liệt: Hạ quan, Giáp xa, Thừa tương (Trung Quốc Châm Cứu Học Khái Yếu).
+ Chứng Bế: Thủy câu, 12 tĩnh huyệt, Thái xung, Phong long. Chứùng thoát: Quan nguyên, Thần khuyết (cứu cách muối).
Liệt nửa người: Kiên ngung, Khúc trì, Hợp cốc, Ngoại quan, Hoàn khiêu, Dương lăng
tuyền, Túc tam lý, Giải khê, Côn lôn (Châm Cứu Học Giảng Nghĩa).
+ Kiên ngung, Khúc trì, Liệt khuyết, Thái uyên, Hợp cốc, Thủ tam lý, Túc tam lý, Phong thị, Hoàn khiêu, Dương lăng tuyền, Giải khê, Thái uyên, Huyền chung, Phục thố (Châm Cứu Trị Liệu Học).
+ Chứng bế: Khai khiếu, tiết nhiệt, tinh thần, tức phong, châm Nhân Trung Thập tuyên, Bách hội, Giáp xa, Hợp cốc, Dũng tuyền, Phong long, Thiên đột.
Chứng thoát: hồi dương cố thoát, cứu Thần khuyết, Quan nguyên, Khí hải. Liệt mặt: Giáp xa, Địa thương, Toàn trúc, Hợp cốc, Thái xung.
Liệt nửa người: Kiên ngung, Khúc trì, Hợp cốc, Bát tà, Phục thổ, Túc tam lý, Giải khê, Bát phong.
Nói khó, lưỡi cứng, Á môn, Liêm tuyền, Thông lý (Châm Cứu Học Việt Nam).
+ Đầu lâm khấp, Bách hội, Nhân trung, Nội quan, Thập tuyên, hoặc Kiên tỉnh, Bách hội, Phong trì, Nhân trung, Nội quan, hoặc Huyền chung, Thận du, Hoàn khiêu, Dương lăng tuyền, Túc tam lý, Giải khê, Côn lôn, Kiên ngung, Khúc trì, Ngoại quan, Hợp cốc (Châm Cứu Học Giản Biên).
+ Châm bình bổ bình tả Kiên ngung, Kiên liên, Khúc trì, Thủ tam lý, Ngoại quan, Hợp cốc, Phong thị, Phục thố, Dương lăng tuyền, Túc tam lý, Tuyệt cốt.
- Can dương vượng: thêm Phong trì, Thái dương, Thái xung (châm tả).
- Đờm nhiều: Thêm tả Phong long, Hành gian, bình bổ bình tả Tỳ du, Vị du và Nhân trung.
- Âm hư thêm châm bổ Tam âm giao, Thái khê.
- Mặt liệt thêm Giáp xa, Địa thương, bình bổ bình tả.
- Lưỡi cứng khó nói thêm Liêm tuyền, Thông lý.
- Liệt nửa người: Kiên ngung, Khúc trì, Ngoại quan, Hợp cốc, Hoàn khiêu, Túc
tam lý, Dương lăng tuyền, Huyền chung, Giải khê.
+ Gia giảm:
Khí huyết hư, kinh mạch ứ trệ: Bách hội, Túc tam lý, Tam âm giao, Quan nguyên, Khí hải, Vị du, Tỳ du, Cách du, Cao hoang.
Can dương vượng, kinh mạch ứ trở: thêm Thái xung, Hành gian, Dương lăng tuyền, Túc lâm khấp, Can du, Đởm du, Khúc trì, Phục lưu.
Đờm nhiều làm ngăn trở kinh mạch: thêm Phong long, Túc tam lý, Tam âm giao, Huyết hải, Quan nguyên, Phế du, Đởm du, Khúc trì, Phục lưu (Giang Tô Trung Y Tạp Chí 1985, 24).
+ Chi trên: Kiên tĩnh, Kiên ngoại du, Kiên ngung, Kiên liêu, Kiên trinh, Khúc trì, Ngoại quan, Dương trì, Thủ tam lý, Hợp cốc, Đại chùy, Hòa đà giáp tích (Giang Tây Trung Y Dược 1985, 35).
- Điện châm
Tổng hợp thông tin từ các meta-analysis gần đây về thông số điện châm được áp dụng
trong các nghiên cứu phục hồi vận động (chi trên, chi dưới, hoặc cả hai). Vì các nghiên cứu báo cáo phân tích hiệu quả theo điểm FMA nhưng báo cáo theo nhiều cách tính khác nhau như WMD, SMD hoặc MD. Do đó chưa thể phân tích gộp để tính ra hiệu quả của cách cài đặt nào hiệu quả hơn. Tuy nhiên dựa vào một số lý thuyết về điện trị liệu và phục hồi chức năng có thể đưa ra một số kết luận sau đây (có thể là chủ quan và chưa thật sự chính xác):
- Cơ chế của tái tổ chức não sau đột quỵ là các neuron lân cận vùng vị tổn thương sẽ hình thành các synap mới để chi phối thay thế cho các neuron đã chết. Kích thích để giúp cho các neuron hình thành synap bù trừ chính là vòng tín hiệu hướng tâm từ các sợi cảm giác (cảm giác sâu về trương lực cơ, vị thế khớp…) sẽ đi lến vùng cảm giác nguyên phát và truyền qua vùng vận động nguyên phát. Như vậy, mục đích của điện châm hay của các bài tập vận động là buộc co cơ để tạo tín hiệu cảm giác hướng tâm về não tạo ra sự tái phân bố thần kinh. Để đạt mục đích này cần chỉnh thông số điện châm: cường độ đủ mạnh để gây được co cơ (nhưng không quá khó chịu với bệnh nhân); dùng chế độ ngắt quãng để tránh mỏi cơ; tần số cần đạt mức gây kích thích được nhiều sợi cơ nhất, thường dùng tần số khoảng 35-55 Hz, tuy nhiên có thể thấp hơn để tránh mỏi cơ; điện cực âm có tác dụng kích thích khử cực cơ tốt hơn điện cực dương, do đó nên đặt điện cực âm tại các điểm vận động của bó cơ (thường là điểm to nhất của bó cơ), điện cực dương đặt nơi xa vùng kích thích, không phải như một số lý thuyết chọn mắc 1 cực tại nguyên uỷ, 1 cực tại bám tận, lý thuyết này chưa tìm thấy cơ chế nào ủng hộ cả.
- Trong trường hợp cơ đang teo hoặc phù nề do ứ đọng hệ tĩnh mạch và bạch huyết, và mục đích muốn làm chậm teo cơ, giảm thiểu sự mất khối lượng cơ, giảm sự xơ hoá và thoái hoá cơ, giảm phù nề do mất vận động kéo dài, nên chọn: xung vuông, một chiều ngắt quãng; tần số nhỏ hơn 10 Hz; cường độ đủ gây co cơ; cần tránh mỏi cơ.
- Dựa trên hiệu quả được báo cáo qua các nghiên cứu mà bảng tổng hợp ở dưới đây, các nghiên cứu đều chọn tần số dưới 50 Hz, cường độ chọn đa số là mức gây co cơ. Lưu ý các nghiên cứu điện châm khác không báo cáo rõ tần số sẽ không được đưa vào bảng tổng hợp bên dưới.
Tóm lại, cần chú ý cài đặt thông số điện châm theo mục tiêu điều trị, không nên chỉ quan tâm tới công thức huyệt và cách châm thôi để đạt hiệu quả tốt. Cũng cần kiểm định lại lý thuyết châm nguyên uỷ, bám tận của bó cơ.
THÒNG SÓ DIJN CHÂM QUA CÁC NGHIÊN CỨU PHỤCC HỒI S’MC C€ï SAU DQT Q
YhS.BC. Vd Shani •?ínzig
| 100 | 30 | S35, GB30/34, ST36/4I, BL60 | ||
| Liu 2010 | 100 | Dung cap | 30 | |
| Sang 2011 | 100 | 30 | GV20. LI4/10/11/14. IE5. GB34. SP6. LR3. ST56/40 | |
| lia et al 2012 | 50 100 | Co en | 30 | LI 15, SI 14, LI 1. LI 4, SI 5 |
| Li 2005 | 30 | GV20,GB20 | ||
| Zhang 2008 | 20 | 30 | LI4/10/t 1/15, ST3I/32/34/36/4B/41 | |
| Gan 2017 | 20 | Co co | 30 | LI 15, LI 11, LI 10, LI 4, SJ 5 |
| Huang 2012 | 20 | 30 | LI I0/11/14/ 15. ST3I/32/34/36/40/41 | |
| Lin 2017 | 20 | 30 | LI 10, SI 3, LI 11, LI IS, LI 4 | |
| 20 | 20 | LI4/11/15. LU5. PC6. TE14. ST36/40. GB34/39, SP6, LR3 | ||
| Zhang 2011 | 20 | Dung n9p | 30 | |
| Li 2014 | 15-30 | 1-2RUt | 30 | |
| 16-18 | 30 | Lld/1 l/i5, LR3, GB34, ST31, BL23 | ||
| Liu 2009 | io-is | Dung pp | 20 | |
| Zhang 2008 | 10-15 | Dung n9p | 20 | |
| 5/45 | 30 | DU20/26, LII 1/14. PC6. ST36. SP6 | ||
| Hsieh 2007 | 3/15 | 20 | GV 20. GB 20/31/34, LI 4/11/15. ST 36, | |
| Liu 2007 | 3.3 | Dung 9p | 30 | |
| Xie 2004 | 2.7 | Co co | 20 | |
| Zbou 2009 | 2.7 | Dung pp | 30 | |
| LaÍ 20 U | 2-4 | 30 | LI IS. SI 14, tlT 1, LtJ 5, PC 5, EX-UE9 | |
| Gosrrian l9S8 | 2 | 30 | Lt4. U TI. ST38.TE5.GY20 | |
| 4ahansson 2004 | 2 | 30 | LI4/I 1. ST 36/40, GV 20, GB 34 | |
| Peng 2008 | 1-2 | Dung nu,p | 30 | |
TÀI LIỆU THAM KHÀO
Liu, A. J., Li. J. H., Li, H. Q., Fu. D. L., Lu, L.. Bian, Z. X.. & Zheng, G. Q. (20151. Eiectf oacupuncture for acute ischemic stroke- a recta-analysis of randoinized controlled trials. The Hrr«rfcri7 yoiir, o/ o/C’fiiriese medicine. 4.J(08), I 541-1566.
Wei, X., He, L., Liu, J.. Ai, Y.. Liu, Y., Yang, Y.. 4• Lin. B. (2019). Electroacupuncture for reflex sympathetic dystrophy afier stroke: a meta-
nnzl yzis. Journal ofsiroke anrl Crrebrovnsciilar Diseases, .”8(5), 1388-1399.
Zhan, J., Pan. R.. Zhou, M., Tan, F., Huang, Z.. Dong. /.. 8r Wen. Z. (2018). Electroacupuncturt as an adjunctive therapy for motor dysfunction in
ncnte stroke survivors a systematic review and meta-analyses. BMJ overt. 8( 1). e0l7153
III. Tiên lượng và dự phòng
Tiên lượng:
Đột quỵ được điều trị càng sớm thì tổn thương não càng ít nặng nề và cơ hội phục hồi càng cao.
Một số yếu tố cho thấy một kết quả kém. Những cơn đột quỵ làm suy giảm ý thức hoặc
ảnh hưởng đến phần lớn bên trái của não có thể đặc biệt nghiêm trọng.
Thông thường, bệnh nhân càng cải thiện nhanh trong những ngày sau đột quỵ thì cuối cùng họ sẽ càng cải thiện. Cải thiện thường tiếp tục trong 6 tháng đến 12 tháng sau đột quỵ. Ở người lớn bị đột quỵ do thiếu máu não cục bộ, các vấn đề tồn tại sau 12 tháng có thể là vĩnh viễn, nhưng trẻ em tiếp tục cải thiện chậm trong nhiều tháng. Người cao tuổi ở trạng thái kém hơn người trẻ. Đối với những người đã mắc các chứng rối loạn nghiêm trọng khác (ví dụ như chứng mất trí nhớ), khả năng phục hồi sẽ bị hạn chế hơn. Trong số tất cả các nguyên nhân gây đột quỵ, đột quỵ ổ khuyết có tiên lượng tốt nhất.
Nếu đột quỵ xuất huyết không nặng và không có tăng áp lực nội sọ thì kết quả có thể sẽ tốt hơn sau đột quỵ do thiếu máu cục bộ với các triệu chứng tương tự. Máu (trong đột quỵ xuất huyết) không làm tổn thương mô não nhiều như thiếu máu não cục bộ.
Dự phòng:
Kiểm soát huyết áp: Tình trạng huyết áp cao là một trong những nguy cơ lớn nhất có thể dẫn đến đột quỵ. Do đó, để phòng ngừa đột quỵ, bạn cần kiểm soát huyết áp thông qua chế độ ăn uống lành mạnh, tập thể dục đều đặn, giảm cân (nếu cần). Với người bị cao huyết áp, bác sĩ có thể chỉ định sử dụng một số thuốc giúp ổn định huyết áp.
Không hút thuốc: Hút thuốc lá làm tăng nguy cơ đột quỵ. Vì thế, nên chú ý cai thuốc lá
để phòng ngừa đột quỵ.
Kiểm soát đường huyết: Đường huyết cao cũng là một trong những yếu tố làm tăng nguy cơ đột quỵ não. Bạn có thể kiểm soát đường huyết bằng cách hạn chế ăn thức ăn nhiều đường cũng như đo đường huyết định kỳ.
Kiểm soát cholesterol và mỡ máu: Cholesterol cao hoặc mỡ máu có thể làm tăng nguy cơ đột quỵ não. Vì thế, bạn nên xây dựng chế độ ăn uống lành mạnh bằng cách giảm muối và chất béo bão hòa. Ngoài ra, nên tập thể dục 30 phút mỗi ngày và tối thiểu 3 ngày/tuần.
Giảm cân nếu bạn béo phì hoặc thừa cân: Béo phì hoặc thừa cân tăng nguy cơ đột quỵ não. Vì thế, nếu chỉ số BMI của bạn cao hơn mức bình thường, bạn nên thực hiện các chế độ kiểm soát cân nặng để giúp phòng ngừa đột quỵ.
Bổ sung các dưỡng chất tốt cho não bộ: Bạn có thể bổ sung các hoạt chất thiên nhiên như omega-3, hoạt chất thiên nhiên blueberry (việt quất xanh) và ginkgo biloba (bạch quả),… để tăng cường sức khỏe não bộ. Bên cạnh việc sử dụng thực phẩm có chứa những dưỡng chất này, việc sử dụng các loại thực phẩm chức năng chứa hoạt chất thiên nhiên cũng là một bí quyết để bạn có thể ngăn ngừa đột quỵ não cũng như phòng ngừa các bệnh lý thần kinh khác, chẳng hạn như sa sút trí tuệ, đau đầu, mất ngủ,…
Thăm khám sức khỏe định kỳ: Để phòng ngừa đột quỵ não, điều quan trọng là bạn cần thăm khám, tầm soát đột quỵ định kỳ. Trong quá trình tầm soát, bác sĩ có thể sớm phát hiện các yếu tố nguy cơ đột quỵ, hướng dẫn điều trị hoặc tư vấn những biện pháp giúp phòng ngừa bệnh hiệu quả.
