Đại cương
Với tần suất bệnh vào khoảng 20-25% dân số và tỷ lệ kiểm soát huyết áp (HA) thành công còn khiêm tốn (vào khoảng dưới 30%, ngay cả ở các nước phát triển), tăng huyết áp (THA) ngày nay là vấn đề của y tế cộng đồng.
Cho dù bệnh học THA được biết đến khá rõ, 95% bệnh THA không xác định được nguyên nhân (THA vô căn, THA nguyên phát). Cơ chế gây bệnh phức tạp, người ta cho rằng đó là bệnh đa yếu tố vì phụ thuộc vào sự tương tác của nhiều gen và các yếu tố môi trường.
1.1. Định nghĩa
* Huyết áp: là áp lực máu tác động lên thành động mạch, được tạo ra do lực co bóp của cơ tim và sức cản của thành động mạch.
* Tăng huyết áp – High blood pressure – Hypertension
Tăng huyết áp là tình trạng tăng dai dẳng huyết áp động mạch được chẩn đoán khi:
- Tại phòng khám (Huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg – Huyết áp tâm trương ≥ 90mmHg)
- Tại nhà (Huyết áp tâm thu ≥ 135mmHg – Huyết áp tâm trương ≥ 85mmHg)
Sơ lược giải phẫu:

Hình 1. Giải phẫu hệ tuần hoàn của cơ thể
1.2. Sinh lý học

Hình 2. Sơ đồ các yếu tố, chỉ số ảnh hưởng đến huyết áp [2]
Ngoài ra:
▶ Tuổi: Huyết áp tỉ lệ thuận với tuổi đời, càng về già, huyết áp càng cao theo mức độ xơ hóa động mạch.
▶ Chế độ ăn: Ăn nhiều đạm, ăn mặn thì huyết áp tăng.
▶ Giới tính: Giữa nam và nữ chênh nhau không nhiều
- 11-14 tuổi: gái hơn trai,
- 15 tuổi: bằng nhau,
- Trên 15 tuổi: nam cao hơn nữ
▶ Nhịp sinh học: Huyết áp thay đổi theo ngày đêm như hình sin, huyết áp hạ vào sáng sớm, tăng dần đến trưa rồi chiều giảm.
Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh
Đa phần bệnh thường gặp ở người lớn tuổi không có nguyên nhân (tăng huyết áp vô căn hay nguyên phát); khoảng 10% tình trạng có nguyên nhân, còn gọi là tăng huyết áp thứ phát.
2.1 Tăng huyết áp nguyên phát (vô căn)
Khoảng 90% trường hợp huyết áp tăng cao không xác định được nguyên nhân.
Bệnh có tính gia đình, nhiều người trong gia đình cùng mắc tình trạng này, đặc biệt khi lớn tuổi hoặc có bệnh đái tháo đường. Ngoài ra còn có các yếu tố khác dễ đưa đến mắc bệnh như thói quen ăn mặn làm tăng huyết áp (nhiều muối), hút thuốc lá, uống rượu bia nhiều, dư cân hoặc béo phì, ít vận động thể lực, có nhiều căng thẳng, áp lực trong cuộc sống.
2.2 Tăng huyết áp thứ phát
Khi xác định có một nguyên nhân trực tiếp thì gọi là tăng huyết áp thứ phát. Tình trạng này chiếm khoảng 10% ca bệnh nhưng nếu điều trị theo đúng nguyên nhân thì bệnh có thể chữa khỏi. Các nguyên nhân thường gặp là:
- Bệnh thận là nguyên nhân thường gặp nhất trong tăng huyết áp thứ phát (Ví dụ: viêm cầu thận, hội chứng thận hư, suy thận mạn, hẹp động mạch thận…)
- Bệnh lý tuyến thượng thận, là một tuyến nội tiết nằm ngay phía trên thận mỗi bên, tiết ra các hormone điều hòa muối – nước và huyết áp của cơ thể. Nếu u của tuyến này tiết bất thường các hormone sẽ làm huyết áp tăng. Điều trị cắt bỏ khối u có thể chữa khỏi bệnh huyết áp cao, không cần uống thuốc lâu dài hoặc lượng thuốc uống ít lại.
- Một số bệnh lý nội tiết khác cũng khiến huyết áp tăng như cường giáp, suy giáp, bệnh Cushing,…
- Một số loại thuốc khi uống như corticoides (điều trị bệnh viêm khớp, bệnh Lupus, hen suyễn, dị ứng,..), thuốc kháng viêm, giảm đau, hormone thay thế hoặc thuốc tránh thai,…
- Hội chứng ngưng thở khi ngủ.
- Tăng huyết áp ở trẻ em hoặc người trẻ cần phải loại trừ bệnh tim bẩm sinh do hẹp eo động mạch chủ. Khi đó huyết áp ở hai tay rất cao, trong khi huyết áp ở chân thì thấp hoặc không đo được. Điều trị bệnh này bằng phẫu thuật hoặc nong đặt stent trong lòng động mạch chủ đoạn bị hẹp.
2.3. Cơ chế bệnh sinh

