Chẩn đoán

 Triệu chứng

Chóng mặt, hoa mắt

Nhìn đồ vật xoay tròn

Nhẹ thì nhắm mắt hết, nặng thì tròng trành như ngồi xe, thuyền, có khi ngã té.

Kèm theo buồn nôn, nôn ói, rung giật nhãn cầu, ù tai, điếc tai, đổ mồ hôi, sắc mặt nhợt.

 Chẩn đoán phân biệt

Trúng phong: triệu chứng thường đột ngột mắt tối sầm, ngất đi té nhào, bất tỉnh nhân sự, kèm theo miệng méo lưỡi lệch, khó nói hoặc có thể không có hôn mê mà chỉ có biểu hiện miệng méo, liệt nửa người. Trúng phong khá giống Huyễn vựng, nhiều khi Huyễn vựng là tiền triệu của trúng phong.

 Quyết chứng: Là bệnh danh của Y học cổ truyền có triệu chứng chính là đột ngột ngất đi té nhào, bất tỉnh nhân sự, hoặc kèm lạnh tứ chi, hôn mê trong một khoảng thời gian ngắn sau đó tỉnh lại hoàn toàn bình thường, không có liệt, không nói khó, không méo miệng… Nhưng cũng có trường hợp nặng thì cũng có biểu hiện gục ngã, vào hôn mê không tỉnh

 Giản chứng: Khi phát tác khởi bệnh cấp tốc, đột ngột té nhào trên mặt đất, bất tỉnh, sùi bọt mép, mắt trợn ngược, tứ chi co giật, hoặc tiếng kêu sau tỉnh lại hoàn toàn bình thường.

     Điều trị

 Nguyên tắc điều trị

Hư thì bổ, thực thì tả, điều chỉnh âm dương

Huyễn vựng là bệnh do mất cân bằng âm dương chủ yếu ở hai tạng Can và Thận, bản chất của bệnh là bản hư tiêu thực, bản hư là do Can Thận hư, tiêu thực là do khí trệ, huyết ứ, đàm trệ gây nên. Vì vậy, nguyên tắc chung điều trị là:

– Bệnh cấp trị tiêu, bệnh hoãn trị bản hoặc tiêu bản cùng trị.

+ Trị bản là dùng pháp điều chỉnh cân bằng âm dương của Can, Thận. Trị tiêu là dùng pháp hành khí, hoạt huyết hoặc trừ đàm.

+ Trong quá trình tiến triển của bệnh, nếu bản hư và tiêu thực cùng xuất hiện thì pháp điều trị là: bình Can tức phong, trừ đàm hóa trọc, hoạt huyết lợi thủy kết hợp với tư dưỡng Can Thận.

– Điều trị phải toàn diện: có chế độ ăn uống nghỉ ngơi hợp lý, điều tiết tình chí, kết hợp với luyện tập thể lực. Nếu HA vẫn cao cần phối hợp với thuốc YHHĐ để hạ HA xuống mức bình thường

    Điều trị cụ thể

 Can dương thượng cang

Lâm sàng: Đau đầu, đầu căng tức, hoa mắt, chóng mặt, sắc mặt đỏ, mắt đỏ, dễ cáu gắt, ngủ ít, ngủ hay mê, miệng và họng khô; bệnh thường nặng lên khi bệnh nhân bực dọc hoặc cáu giận; chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch huyền sác hoặc huyền hoạt.

Do bẩm tố dương thịnh âm suy hoặc do tinh thần căng thẳng, uất ức quá độ hoặc kéo dài, làm cho can mất điều đạt, can khí uất kết, khí uất hóa hỏa gây tổn thương can âm, dẫn đến can dương thượng xung. Hoặc do âm hư không chế ước được dương, cụ thể là Thận âm hư không nuôi dưỡng được Can âm, làm cho Can dương bốc lên vì vậy xuất hiện đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, mặt đỏ, tính tình nóng nảy, dễ cáu gắt. Can khai khiếu ra mắt do vậy, nếu Can hỏa vượng sẽ làm cho mắt đỏ; Can hỏa bốc lên làm nhiễu động tâm thần, đồng thời không dưỡng được tâm huyết dẫn đến mất ngủ; Can Đởm vượng làm cho miệng đắng, lưỡi đỏ, mạch huyền

Pháp điều trị: Bình Can tiềm dương (Bình Can tức phong)

Phương dược: Thiên ma câu đằng ẩm gia giảm

Bảng 4. Các vị thuốc và tác dụng của vị thuốc trong Thiên ma câu đằng ẩm

Thiên ma Bình Can tức phong tiềm dương Quân
Câu đằng
Thạch quyết minh
Chi tử Thanh nhiệt tả hỏa làm cho nhiệt ở kinh Can không thiên cang Thần
Hoàng cầm
Ích mẫu thảo Hoạt huyết lợi thủy Tá, Sứ
Ngưu tất Đưa huyết xuống dưới
Đỗ trọng Bổ Can Thận
Tang ký sinh
Phục thần An thần định chí
Dạ giao đằng

Bài thuốc trên sắc uống, ngày 01 thang.

Hoặc có thể sử dụng bài Long đởm tả can thang

Đối pháp lập phương: Lựa chọn các vị thuốc thuộc các nhóm theo pháp điều trị.

Nghiệm phương: Nam dược thần hiệu – Chóng mặt: Hương phụ 1 lạng, Cúc hoa 1 lạng, Kinh giới 1 lạng, Bạc hà 3 đồng cân. Tán mịn, mỗi lần uống 10g sắc với nước chè và hành làm thang, uống trước khi ăn.

 Can thận âm hư

Lâm sàng: Mệt mỏi, váng đầu hay quên, lưng gối đau yếu, ù tai, mất ngủ, nam giới có thể di tinh, lòng bàn tay bàn chân nóng, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch huyền tế.

Do Can tàng huyết, Thận tàng tinh, hai tạng trên đều ở hạ tiêu, về sinh lý và bệnh lý có quan hệ mật thiết. Biểu hiện sinh lý là tinh huyết tương hỗ hóa sinh, âm dương tương thông, về bệnh lý có quan hệ nhân quả: Thận âm bất túc thường dẫn đến Can âm bất túc, Can âm bất túc cũng có thể làm cho Thận âm bất túc. Can thận âm hư sẽ không kiềm chế được Can dương, làm cho Can dương thượng xung, gây nên: đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, ù tai, đau lưng, mỏi gối, hay quên, ngũ tâm phiền nhiệt, hồi hộp, trống ngực, mất ngủ, chất lưỡi hồng, ít rêu lưỡi, mạch tế sác. Các triệu chứng trên phản ánh tình trạng bệnh lý thượng thực, hạ hư đây là một trong những cơ chế chủ yếu trong bệnh THA.

Pháp điều trị: Tư bổ Can Thận

Phương dược: Lục vị địa hoàng thang

Bảng 5. Các vị thuốc và tác dụng của vị thuốc trong Lục vị địa hoàng thang

Thục địa Tư âm bổ thận Quân
Hoài sơn Cố tinh Thần
Sơn thù Dưỡng can sáp tinh Thần
Trạch tả Thanh tả thận hỏa
Đơn bì Thanh can hỏa
Bạch linh Thẩm thấp

Bài thuốc trên vận dụng liều thích hợp để sắc uống, ngày 01 thang.

Hoặc có thể sử dụng bài Tri bá địa hoàng thang, Kỷ cúc địa hoàng thang.

Nghiệm phương: Viên thận âm hư (Thuốc nam châm cứu): Thục địa 200g, Quy bản 200g, Thỏ ty tử 80g, Tỳ giải 100g, Lộc giác giao 150g, Củ mài 150g, Thạch hộc 80g, Mật ong vừa đủ. Làm viên hoàn cứng, mỗi ngày uống 20g.

 Đàm thấp

Thường gặp ở người béo phì, người hay ăn đồ béo ngọt.

Lâm sàng: Đau đầu, nặng đầu như bó lại, nhìn đồ vật quay cuồng, tức ngực buồn nôn, nôn ra nước dãi, ăn ít, mệt mỏi, ngủ li bì, chất lưỡi nhợt bệu, rêu lưỡi trắng, ánh vàng, mạch nhu hoạt.

Do Tỳ Vị bị tổn thương, chức năng vận hóa bị rối loạn, không vận hóa thủy cốc thành chất tinh vi mà sinh ra đàm hoặc do can khí uất kết, khí uất làm cho thấp trệ mà sinh đàm. Đàm gây trở trệ kinh lạc, dẫn đến thanh dương không thăng, trọc âm không giáng gây nên chóng mặt, tức ngực, buồn nôn. Nếu đàm trọc kết hợp với phong với hỏa sẽ dẫn đến chứng trúng phong. Trên lâm sàng thường thấy biểu hiện này ở bệnh nhân THA có yếu tố vữa xơ động mạch, đây là thể bệnh có nguy cơ cao dẫn đến biến chứng não.

Trị pháp: Kiện tỳ, trừ thấp, hóa đàm

Phương dược: Bán hạ bạch truật thiên ma thang

Bảng 6. Các vị thuốc và tác dụng của vị thuốc trong Bán hạ bạch truật thiên ma thang

Trần bì Lý khí kiện tỳ Quân, thần
Bán hạ Giáng nghịch chỉ ẩu
Phục linh Lợi thủy thẩm thấp
Bạch trật Táo thấp lợi thủy
Thiên ma, Mạn kinh tử Tức phong chỉ huyền Tá, sứ
Cam thảo, Sinh khương, Đại táo Kiện tỳ, hòa vị

 

Bài thuốc trên vận dụng liều thích hợp để sắc uống, ngày 01 thang.

Nghiệm phương: (Nam dược thần hiệu – Chóng mặt): Can khương 10g, Cam thảo 04g. Sắc uống ngày 01 thang chia 02 lần.

 Âm dương lưỡng hư

Thường gặp ở người cao tuổi hoặc phụ nữ sau khi hết kinh

Triệu chứng: Mệt mỏi, sắc mặt trắng, đau đầu, chóng mặt, ngủ ít, hồi hộp, ù tai, lưng đau, gối mỏi, đại tiện lỏng, sợ lạnh, chân tay lạnh, tiểu đêm nhiều lần, di tinh, liệt dương (nếu ở nam), chất lưỡi hồng nhạt, rêu lưỡi trắng. Mạch huyền tế hoặc trầm tế.

Do mắc bệnh lâu ngày, âm dương cùng bị tổn thương gọi là âm dương lưỡng hư. Trong bệnh THA, ban đầu là âm hư làm ảnh hưởng đến dương, âm tổn cập dương thường dẫn đến thận dương bất túc. Vì vậy, trên lâm sàng ngoài các triệu chứng của thận âm hư còn thấy các triệu chứng biểu hiện của chứng dương hư: sợ lạnh, chân và tay lạnh, dương nuy, tiểu đêm nhiều lần. Thể bệnh này thường gặp trong THA kéo dài đã có nhiều biến chứng đặc biệt là có tổn thương tới thận

Trị pháp: Bổ thận dưỡng âm

Phương dược: Hữu quy hoàn

Bảng 7. Các vị thuốc và tác dụng của vị thuốc trong Hữu quy hoàn

Thục địa Tư thận dưỡng tinh
Hoài sơn Cố tinh
Sơn thù Dưỡng can nhiếp tinh
Đương quy Dưỡng âm
Lộc giác giao
Đỗ trọng Ôn dưỡng can thận
Thỏ ty tử
Kỷ tử
Hắc phụ tử Ôn bổ thận dương
Nhục quế

Bài thuốc trên vận dụng liều thích hợp để sắc uống, ngày 01 thang.

Nghiệm phương: Viên thận dương hư (Thuốc nam châm cứu): Thục địa 160g, Hoài sơn 160g, Tiểu hồi 60g, Nhục quế 30g, Sừng hươu 20g, Ba kích 80g, Hắc phụ tử 16g. Làm viên hoàn cứng, mỗi ngày uống 20g.

Các phương pháp điều trị khác

   Châm cứu

Thể can dương thượng cang:

Châm tả các huyệt Bách hội, Thái dương; Đởm du, Can du, Thái xung, Hành gian, Nội quan, Thần môn, Tam âm giao. Lưu kim 20-30 phút/lần/ngày, từ 15-20 ngày/liệu trình.

Nhĩ châm: Điểm hạ áp, Can, Thần môn. Nhĩ châm 1 lần/ngày. 15-20 ngày/liệu trình.

Thể can thận âm hư:

Châm bổ các huyệt: Can du, Thái khê, Thận du, Huyết hải, Tam âm giao, Nội quan, Thần môn Lưu kim 20-30 phút/lần/ngày, từ 15-20 ngày/liệu trình.

Nhĩ châm: Điểm hạ áp, Can, Thận. Nhĩ châm 1 lần/ngày, từ 15 đến 20 ngày/liệu trình

Thể âm dương lưỡng hư

Châm hoặc cứu bổ: Thận du, Tam âm giao, Quan nguyên, Khí hải, Túc tam lý, Nội quan, Thần môn. Lưu kim 20 – 30 phút/lần/ngày, từ 15 đến 20 ngày/liệu trình.

Nhĩ châm: Điểm hạ áp, Thận.

Thể đàm thấp:

Châm bổ các huyệt: Túc tam lý, Tỳ du, Vị du, Nội quan, Thần môn, Tam âm giao; châm tả Phong long. Lưu kim 20 – 30 phút/lần/ngày, từ 15 đến 20 ngày/liệu trình.

Nhĩ châm: Điểm hạ áp, Tỳ, Vị.

Xoa bóp bấm huyệt:

XBBH vùng đầu, cổ gáy: Thực hiện các thủ thuật xoa, xát, miết, phân, day, ấn, bấm, bóp, lăn, vỗ. Day, ấn, bấm các huyệt như trong công thức huyệt điện châm. Mỗi lần xoa bóp bấm huyệt từ 20 đến 30 phút, ngày một lần, một liệu trình 10 đến 15 lần.

  Tiên lượng và dự phòng

Tiên lượng: Kiểm soát tốt giúp hạn chế tối đa những tổn thương cơ quan đích.

Bệnh thường phải điều trị củng cố sau khi huyết áp ổn mức bình thường lại thì phải duy trì thuốc thảo mộc đến khi bệnh ổn định, tránh được tai biến, tàn phế. Nếu có biến chứng nguy hiểm, tinh thần bị kích thích quá mạnh, lao động quá sức, quá mệt mỏi, hàn lạnh từ dưới làm cho huyết áp đột ngột tăng cao, đau đầu kịch liệt, phiền táo bất an, phát sốt, phát hãn, tai ù mắt hoa, nôn khan hoặc nôn mửa, tâm quí, thị lực giảm hoặc là mù tạm thời, co giật… là triệu chứng của Can dương bạo cang, Can phong nội động, cần cho bệnh nhân nằm nghỉ ngơi cao đầu, thở oxy phối hợp dùng thuốc hạ áp của y học hiện đại như: Nifedipin (Adalat), Aldomet, thuốc chẹn beta, Captopril, Reserpin kết hợp thuốc lợi niệu Furosemid (Lasix).

Để lại một bình luận