Chẩn đoán

Biện cấp hoãn: Bản chất bệnh trúng phong thường là bản hư tiêu thực.

     Biện phong, hỏa, đàm, ứ, âm hư, khí hư

Trúng phong có sáu nhóm bệnh cảnh cơ bản dựa trên cơ chế bệnh sinh, bao gồm: Phong, Hỏa, Đàm, Huyết ứ, Khí hư, Âm hư hỏa vượng. Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Jin Song You và cộng sự (2008) trên 1246 bệnh nhân trúng phong, thấy bệnh nhân chỉ có một bệnh cảnh cơ bản chiếm tỉ lệ thấp (1,9%), còn lại đa phần làkết hợp nhiều bệnh cảnh (phối hợp từ 2 bệnh cảnh đến 6 bệnh cảnh cơ bản).

·       Phong

Triệu chứng đặc trưng: Thường ngày có triệu chứng đau đầu chóng mặt mà đột nhiên xuất hiện liệt nửa người, nặng thì hôn mê co giật.

·       Hỏa

Triệu chứng đặc trưng: Mặt đỏ, mắt đỏ, miệng khô đắng, tâm phiền, bứt rứt khó chịu, đại tiện táo, tiểu tiện vàng.

·       Đàm

Triệu chứng đặc trưng: Khạc đàm tương đối nhiều hoặc lơ mơ, trong họng có tiếng khò khè, rêu lưỡi trắng dầy dơ.

·       Huyết ứ

Triệu chứng đặc trưng: Liệt mềm mà chất lưỡi tím tối là dương khí không đủ, ứ huyết nặng.

·       Khí hư

Triệu chứng đặc trưng: tay chân phù, lạnh tay chân, tự hãn, đoản khí, sắc mặt nhợt, lưỡi bệu, mạch trầm.

·       Âm hư hỏa vượng

Triệu chứng đặc trưng: gò má đỏ, bứt rứt khó ngủ, miệng khô, ngũ tâm phiền nhiệt, lưỡi đỏ rêu ít, rêu khô, mạch tế sác.

     Biện chứng thuận nghịch

Lâm sàng chú ý quan sát “thần” của bệnh nhân đặc biệt là sự biến hóa thần trí và sự linh hoạt của đồng tử. Nếu lúc phát bệnh có biểu hiện hôn mê không biết gì, đa số là do thực tà bế khiếu, đây là trúng tạng, vị trí bệnh ở trong sâu, bệnh tình nặng. Tà nhiễu tâm khiếu, thần trí lúc tỉnh lúc mê là biểu hiện trúng phủ, chính tà đang đấu tranh với nhau.

Nếu bệnh lúc khởi phát là trúng phong kinh lạc, sau đó dần đi vào hôn mê, có sự biến đổi của đồng tử, đôi khi có nôn ói, đau đầu, cổ cứng là biểu hiện của chính khí dần suy kiệt, tà khí càng lúc càng thịnh bệnh nặng thêm là chuyển biến nghịch.

Khởi phát là trúng tạng phủ nhưng thần trí dần tỉnh táo, liệt không tăng hoặc có sự hồi phục chút ít là bệnh chuyển từ tạng phủ ra kinh lạc, đây là chuyển biến thuận, dự hậu tốt.

     Biện chứng bế, chứng thoát

Ngoài ra trên lâm sàng còn có hiện tượng nội bế tâm khiếu chưa giải quyết được mà đã bộc lộ hiện tượng ngoại hư thoát gọi là “nội bế ngoại thoát”. Đây là giai đoạn cuối của bệnh nên cần cao độ cảnh giác đề phòng.

*    Trúng kinh lạc

–          Mạch lạc hư trống, phong tà xâm nhập

Triệu chứng: Liệt nửa người, mồm méo, mắt xếch, tay chân tê bì, nói khó, đau đầu, nghẹt mũi, sợ lạnh, phát sốt, khớp xương đau nhức, rêu trắng, mạch phù.

Phân tích: Triệu chứng tổn thương não lạc bao gồm liệt nửa người, miệng méo, tay chân tê bì, nói khó. Phong tà trước khi trực trúng vào não lạc phải đi từ biểu vào lý, phong tà phạm biểu gây sợ lạnh, phát sốt; phong tà phạm kinh lạc vùng đầu gây đau đầu; phong tà bế tắc tỵ khiếu gây nghẹt mũi; phong tà phạm quan tiết gây đau nhức các khớp xương. Mạch phù do chính khí đấu tranh tà khí muốn đẩy tà khí ra khỏi cơ thể.

–          Can dương cang thịnh

Triệu chứng: Liệt nửa người, chân và tay co cứng hoặc đột nhiên thấy méo miệng, rối loạn ngôn ngữ. Ngoài ra bệnh nhân thấy đầu căng đau, mặt đỏ, mắt đỏ, bứt rứt không yên, dễ cáu giận, đắng miệng, khô miệng, đại tiện táo bón, nước tiểu màu vàng, chất lưỡi hồng và bóng, rêu lưỡi vàng hoặc vàng khô, mạch huyền sác.

Phân tích: Các triệu chứng tổn thương não lạc bao gồm liệt nửa người, chân và tay co cứng hoặc đột nhiên thấy méo miệng, rối loạn ngôn ngữ. Can phong thượng thăng nhiễu loạn nên gây đầu căng đau (Can chủ cân, Can kinh đi đến vùng đỉnh đầu), mắt đỏ (Can khai khiếu ra mắt); Can dương cang thịnh sinh nhiệt gây mặt đỏ, đắng và khô miệng, đại tiện táo, nước tiểu vàng, chất lưỡi hồng, rêu vàng hoặc vàng khô, mạch sác; Can mất sơ tiết dẫn đến dễ cáu giận, mạch huyền; Can hỏa nhiễu Tâm gây bứt rứt không yên.

–          Phong đàm trệ lạc

Triệu chứng: Liệt một nửa người, chân tay co quắp, miệng và lưỡi méo lệch, nói khó, chân và tay tê bì, đau đầu, chóng mặt, hoa mắt, bứt rứt, vật vã, chất lưỡi hồng tím, rêu lưỡi vàng nhớp, mạch huyền hoạt hoặc hoạt sác.

Phân tích: Các triệu chứng tổn thương não lạc bao gồm liệt nửa người, miệng và lưỡi méo lệch, nói khó. Đàm ứ trệ kinh mạch làm khí huyết không thông gây tay chân tê bì; rêu nhớt, mạch hoạt là biểu hiện của đàm. Can uất hóa hỏa sinh phong, phong dương thượng thăng gây đau đầu, chóng mặt, hoa mắt; Can phong nội động nên chân tay co quắp; Can hỏa nhiễu Tâm gây bứt rứt vật vã; mạch huyền, mạch sác, rêu vàng là biểu hiện của Can hỏa.

–          Đàm nhiệt phủ thực

Triệu chứng: Liệt nửa người, nói khó, miệng méo, lưỡi lệch, bụng đầy trướng, đại tiện táo, đau đầu, chóng mặt, xuất tiết nhiều đờm dãi, mặt đỏ, sốt về chiều, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng nhớp hoặc vàng khô, mạch hoạt đại hoặc hoạt sác.

Phân tích: Triệu chứng tổn thương não lạc gồm liệt nửa người, nói khó, miệng méo, lưỡi lệch. Đàm thấp ứ trệ trung tiêu gây bụng đầy trướng, xuất tiết nhiều đờm dãi; đàm theo nhiệt thượng thăng lên đầu mặt gây đau đầu, chóng mặt; mạch hoạt, rêu nhớt là biểu hiện của đàm. Nhiệt tổn hao tân dịch trường phủ gây tiện táo; mặt đỏ, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch đại là biểu hiện của nhiệt.

–          Khí hư huyết ứ

Triệu chứng: Liệt nửa người, nói khó, miệng méo, lưỡi lệch, sắc mặt nhợt, khó thở, mệt, tê bì nửa người, hồi hộp đánh trống ngực, tự ra mồ hôi, chất lưỡi tím nhạt hoặc có điểm ứ huyết, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch tế hoãn hoặc tế sáp.

Phân tích: Triệu chứng tổn thương não lạc gồm liệt nửa người, nói khó, miệng méo, lưỡi lệch. Khí hư nên huyết vận hành không thông, kinh mạch không được nuôi dưỡng nên tay chân tê bì; khí hư huyết ứ, Tâm không chủ được huyết mạch nhiễu động Tâm luật gây hồi hộp trống ngực; khí hư không liễm hãn cố biểu gây tự hãn; khí hư không dẫn huyết lên đầu mặt gây sắc mặt nhợt; tứ chi không có khí lực nên cảm thấy mệt mỏi; khí hư làm Phế không chủ được khí gây khó thở. Lưỡi tím hoặc có điểm ứ huyết, mạch sáp là biểu hiện của huyết ứ.

–          Âm hư phong động

Triệu chứng: Liệt nửa người, miệng méo, lưỡi lệch, nói khó, lòng bàn tay và chân nóng, tê bì ở chân và tay, mất ngủ, chóng mặt, ù tai, chất lưỡi đỏ hoặc đỏ sẫm, rêu lưỡi ít hoặc không có rêu lưỡi, mạch huyền tế hoặc huyền tế sác.

Phân tích: Triệu chứng tổn thương não lạc gồm liệt nửa người, nói khó, miệng méo, lưỡi lệch. Âm hư sinh nội nhiệt gây lòng bàn tay bàn chân nóng; hư nhiệt nhiễu loạn Tâm thần gây bứt rứt, mất ngủ, ngũ tâm phiền nhiệt; lưỡi đỏ hoặc đỏ sẫm, rêu ít hoặc không rêu (nhiệt thiêu đốt tân dịch), mạch tế sác là biểu hiện của âm hư nội nhiệt. Phong dương thượng thăng gây đau đầu, chóng mặt, ù tai; mạch huyền là biểu hiện của Can phong động. Hoặc nếu do Thận âm hư dẫn đến Can âm hư, Can phong nội động thì bệnh nhân trước trúng phong có biểu hiện âm hư nội nhiệt và Thận âm hư từ trước với triệu chứng chóng mặt do Thận tinh bất túc, não tủy không được nuôi dưỡng, ù tai do Thận khai khiếu ra tai, v.v.

*      Trúng phong tạng phủ

–          Dương bế thể Phong hoả bế khiếu

Triệu chứng: Khởi bệnh đột ngột, hôn mê, liệt nửa người, chân tay co quắp, miệng méo, lưỡi lệch, hai mắt nhìn nghiêng hoặc nhìn thẳng, mặt đỏ, mắt đỏ, miệng mím, cứng gáy, chất lưỡi đỏ hoặc đỏ bóng, rêu lưỡi vàng khô hoặc tím đen, mạch huyền sác.

Phân tích: Triệu chứng tổn thương não lạc bao gồm liệt nửa người, miệng méo, lưỡi lệch. Phong hỏa bế Tâm khiếu gây đột ngột hôn mê. Nội phong nhiễu động gây hai mắt trực thị hoặc chỉ nhìn nghiêng về một phía. Mặt đỏ, mắt đỏ, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch sác là biểu hiện của hỏa, rêu tím đen là hỏa cực thịnh. Can chủ cân, Can phong nội động, Can hỏa hun đốt nên cân co rút gây chân tay co quắp, miệng mím, cứng gáy.

–          Dương bế thể Đàm hoả bế khiếu

Triệu chứng: Khởi bệnh đột ngột, hôn mê, liệt nửa người, miệng méo, lưỡi lệch, thở khò khè, mặt đỏ, mắt đỏ, hai mắt nhìn thẳng, đại tiện bí, chất lưỡi đỏ hoặc đỏ bóng, rêu lưỡi vàng nhớt hoặc vàng dày khô, mạch hoạt sác có lực.

Phân tích: Triệu chứng tổn thương não lạc bao gồm liệt nửa người, miệng méo, lưỡi lệch. Đàm hỏa bế Tâm khiếu gây đột ngột hôn mê; đàm hỏa bế dương minh đại trường phủ gây bí đại tiện. Đàm bế tắc khí đạo gây thở khò khè; mạch hoạt là biểu hiện của đàm. Mặt đỏ, mắt đỏ, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch sác là biểu hiện của hỏa.

–          Âm bế (Đàm thấp bưng bít khiếu)

Triệu chứng: Khởi bệnh đột ngột, hôn mê, liệt nửa người, chân tay duỗi mềm, miệng méo, lưỡi lệch, chảy nhiều đờm dãi, sắc mặt trắng, môi tím, chân tay không ấm, có khi lạnh ngắt, chất lưỡi tím nhạt, rêu lưỡi trắng nhớp, mạch trầm hoạt hoãn.

Phân tích: Triệu chứng tổn thương não lạc bao gồm liệt nửa người, miệng méo, lưỡi lệch. Đàm bế Tâm khiếu gây đột ngột hôn mê; Đàm có tính trọng, trọc, trệ nên thấy tay chân buông lỏng; miệng chảy nhiều đàm dãi, rêu nhớt, mạch hoạt là biểu hiện của đàm; đàm bế tắc vệ dương nên sắc mặt trắng, chân tay lạnh; đàm trở trệ huyết vận hành gây lưỡi tím, môi tím.

–          Thoát chứng (Nguyên khí suy bại)

Triệu chứng: Đột nhiên hôn mê sâu, ra mồ hôi từng giọt, mắt mở, miệng há, chân tay liệt mềm, hơi thở yếu, sắc mặt trắng bệch, đồng tử giãn, đại tiểu tiện không tự chủ, chất lưỡi tím nhợt hoặc lưỡi co nhỏ, rêu lưỡi trắng nhớp, mạch vi muốn tuyệt.

Phân tích: Nguyên khí hư thoát, thần không nơi trú ngụ nên hôn mê sâu; khí thoát kéo theo tân dịch thoát gây mồ hôi ra nhiều, giọt lớn; nguyên khí thoát, toàn thân không được nuôi dưỡng gây sắc mặt trắng, hơi thở yếu, đồng tử giãn, chân tay mềm nhão, lưỡi co nhỏ, đại tiểu tiện không tự chủ. Lưỡi tím, mạch vi muốn tuyệt do nguyên khí thoát, âm hàn nội thịnh.

*      Bệnh cảnh không xác định

Ngoài các bệnh nhân có biểu hiện lâm sàng rõ ràng có thể chẩn đoán được bệnh cảnh. Tuy nhiên, đôi lúc có những bệnh nhân chỉ có biểu hiện của tổn thương não lạc mà triệu chứng gợi ý nguyên nhân không xuất hiện, hoặc bị các triệu chứng của tổn thương não lạc che lấp, hoặc thăm khám bị hạn chế do bệnh nhân hôn mê, hoặc do bệnh nhân đã được điều trị trước đó làm thay đổi đi các triệu chứng vốn có. Các nghiên cứu sâu hơn cần được thực hiện để tìm phương pháp chẩn đoán bệnh cảnh có thể áp dụng trên những đối tượng này.

Các nguyên nhân dẫn đến trúng phong, nếu bệnh nhân không tử vong, đều gây tổn thương chính khí, rối loạn công năng tạng phủ, khí huyết ứ trệ hoặc nghịch loạn sinh ra nhiều biến chứng.

Ở giai đoạn sớm sau trúng phong, chính khí hư dẫn đến ngoại tà dễ tấn công vào cơ thể gây bệnh (như Phong nhiệt phạm Phế). Bệnh nhân tiêu tiểu không tự chủ, hoặc do yếu liệt nên tiêu tiểu tại giường, nếu không được chăm sóc vệ sinh tốt dễ dẫn đến thấp nhiệt tà xâm nhập phủ Bàng quang gây Thấp nhiệt Bàng quang.

Khí huyết ứ trệ do liệt nửa người gây hạn chế vận động, nếu không được xoay trở thường xuyên, tập vận động sớm thì khí huyết không thông dẫn đến bì mao cơ nhục không được nuôi dưỡng làm cho cơ nhục bì mao hóa hủ sinh ra lở loét hoặc có thể kèm theo thấp nhiệt do vệ sinh không tốt làm cho tình trạng lở loét nặng nề hơn. Ngoài ra, trúng phong còn gây cơ nhục vùng hầu họng yếu liệt, gây hạn chế ăn uống do nghẹn sặc dẫn đến giảm nguồn nuôi dưỡng từ hậu thiên cho nên khí huyết ngày càng hư suy. Hạn chế uống nước gây thiếu nguồn thủy dịch làm cho tân dịch suy giảm, nội nhiệt càng thịnh dẫn đến bệnh ngày càng nặng, tiên lượng hồi phục xấu hơn. Trúng phong có vị trí tổn thương tại não, làm ảnh hưởng đến thần mà phát sinh các rối loạn về tình chí, hoặc do người bệnh ưu tư, giận dữ khi bị yếu liệt gây Can khí uất kết làm cho cân mạch tay chân bị co rút làm ảnh hưởng quá trình phục hồi vận động.

Ở giai đoạn muộn sau trúng phong, tình trạng khí huyết hư suy hoặc khí huyết ứ trệ hoặc kết hợp cả hai, kèm theo tổn thương tạng Can, tạng Thận (tổn thương Can, Thận này có thể là do có từ trước và là nguyên nhân gây ra trúng phong, hoặc xảy ra sau trúng phong do các nguyên nhân khác làm tổn thương Can, Thận) làm cho cơ nhục, cân, cốt không được nuôi dưỡng gây ra cơ nhục teo nhão, cân co rút, cốt mềm yếu.

Để lại một bình luận