Chẩn đoán

Các triệu chứng ban đầu của đột quỵ xuất hiện đột ngột. Các triệu chứng phụ thuộc vào vị trí nhồi máu

Nhận biết các dấu hiệu: Dùng nguyên tắc FAST để nhớ các triệu chứng chính: Face (Khuôn mặt – xem khuôn mặt có bị lệch không), Arms (Cánh tay – xem họ có thể giơ cả 2 cánh tay lên và giữ được không), Speech (Lời nói – xem họ có thể nói một câu đơn giản không) và Time (Thời gian – nếu bạn nhận thấy bất kỳ dấu hiệu nào, hãy gọi số cấp cứu 114 hoặc số cấp cứu của bệnh viện gần đó ngay lập tức).

Các biểu hiện khác, ngoài các triệu chứng thần kinh, thường gợi ý thể đột quỵ. Ví dụ:

 

Đối với thầy thuốc việc đầu tiên là phải phát hiện (xác định) được bên liệt. Quan sát kỹ mặt người bịnh sẽ thấy:

Người bệnh ăn cơm sẽ thấy cơm chảy qua bên liệt do 2 môi khép không kín.

Riêng lưỡi thường không liệt, nhưng khi thè lưỡi ra ta có cảm tưởng là lưỡi bị lệch về phía liệt vì miệng méo về bên lành.

– Liệt 1 chân 1 tay:

bên lành.

chất điện giải trong huyết thanh, nitơ urê máu [BUN], creatinine và canxi), công thức máu (CBC) kèm theo công thức bạch cầu và tiểu cầu, xét nghiệm gan và nồng độ amoniac trong máu

oxy hóa não.

chứng chấn thương xương và não úng thủy (đầu tiên, chụp CT đầu không thuốc cản quang, tiếp theo là MRI hoặc CT co thuốc cản quang nếu cần để chẩn đoán)

xét nghiệm được thực hiện để xác định nguyên nhân. Bệnh nhân cũng được đánh giá về những tình trạng cấp tính chung (như nhiễm trùng, mất nước, giảm oxy máu, tăng đường máu, tăng huyết áp). Bệnh nhân được hỏi bệnh đánh giá trầm

cảm, thường xảy ra sau đột quỵ. Một đội chuyên về nuốt khó sẽ đánh giá nuốt; đôi khi nghiệm pháp nuốt với barium là cần thiết.

  Điều trị

*      Điều trị tổng hợp:

Khuyến cáo, không dùng glucoza dưới bất cứ hình thức nào trong đột quỵ.

 

*  Điều trị đặc hiệu (Chủ yếu cho thể đột quỵ thiếu máu não)

500- 1500 mg ở Nam Mỹ

clopidogrel, tác dụng gấp đôi aspirin, ít tác dụng phụ hơn aspirin.

Mục đích làm giảm sự tạo thành thrombin và giảm cục máu đông giàu fibrin trong đột quỵ cấp tính, không có hiệu quả trên fibrinogen và độ nhớt máu. Tiêu biểu có các loại sau:

Làm giảm fibrinogen do khi đưa vào tĩnh mạch sẽ biến đổi plasminogen thành plasmin, plasmin có khả năng thuỷ phân fibrin, fibrinogen và các protein đông huyết tương khác làm tiêu cục huyết khối gây tắc mạch nguyên phát hoặc thứ phát. Tuy nhiên việc sử dụng các loại thuốc này đòi hỏi bệnh nhân đến viện sớm trước 3 – 6 giờ và tuân theo những chỉ định rất chặt chẽ, được thực hiện tại các cơ sở y tế chuyên sâu có phương tiện theo dõi các xét nghiệm tin cậy phòng tai biến chảy máu ồ ạt. Tiêu biểu có các loại sau:

Các thuốc bảo vệ tế bào thần kinh (Neuro protection)

Các nghiên cứu cho thấy có vài cơ chế cùng tồn tại song song, mục đích giúp đỡ chuyển hoá ở mô bị rối loạn và có nguy cơ bị rối loạn dẫn đến phá huỷ tế bào thứ phát.

Do tác động kích thích mọc sợi trục, sợi gai nơron thần kinh. Cerebrolysin được coi là

điều trị “bổ xung” lý tưởng cho bệnh nhân đột quỵ.

*    Chiến lược dự phòng đột quỵ về sau

Ngoại khoa (nếu có)

 Các phương pháp điều trị khác (nếu có)

Để lại một bình luận