Theo y học cổ truyền

 Tọa cốt phong là nói đến tình trạng đau, tính chất thay đổi và di chuyển của đau từ vùng thắt lưng lan xuống chân một bên hoặc hai bên. Là bệnh thuộc phần ngoài cơ thể, khởi phát bệnh có thể đột ngột hoặc từ từ. Triệu chứng đau là chính, đau từ thắt lưng lan xuống một bên mông, chân, có thể đau tăng khi thời tiết lạnh, ho, hắt hơi, rặn khi đi tiêu, kèm cảm giác dị cảm (tê, kiến bò). Tọa cốt phong theo Y học cổ truyền còn thuộc phạm vi của yêu cước thống, tọa điến phong, chứng tý.

   NGUYÊN NHÂN

a)   Ngoại nhân

Do phong, hàn thấp, nhiệt tà xâm phạm vào 2 đường kinh dương (bàng quang, đởm) => khí huyết vận hành không thông gây tắc trở kinh lạc, gây đau.

b)  Bất nội ngoại nhân

Chấn thương té ngã, mang vác vật nặng, lao động sai tư thế => khí trễ huyết ứ (khí huyết kinh lạc 2 đường kinh dương (bàng quang, đởm) tắc trở gây bệnh.

Do chấn thương (vi chấn thương) vùng cột sống (đĩa đệm) gây huyết ứ trở trệ kinh lạc, khí huyết vận hành không thông, kinh lạc cân mạch thất dưỡng mà sinh bệnh.

Trường hợp ở người do chính khí hư dẫn đến rối loạn chức năng các tạng, nhất là hai tạng can và thận. Trên cơ sở rối loạn chức năng của hai tạng can, thận, lại mắc thêm lao dật tổn thương (động tác cúi khom thời gian dài) sẽ ảnh hưởng đến sự tuần hành của khí huyết dọc đường đi của kinh bàng quang và kinh đởm, kinh khí của 2 đường kinh bị trở trệ thất dưỡng, bất thông tắc thống, mà dẫn đến bệnh.

   CƠ CHẾ BỆNH

 – Vị trí bệnh tại kinh lạc. Ở những bệnh nhân trẻ tuổi thường do lao động quá sức sai tư thế dẫn đến vùng thắt lưng bị huyết ứ, khí huyết kinh lạc đường kinh túc thái dương

bàng quang hoặc đường kinh túc thiếu dương đởm bị tắc trở mà sinh bệnh tọa cốt phong.

Ở những bệnh nhân lớn tuổi vốn sẵn đau thắt lưng âm ỉ do can thận khuy hư, hoặc bệnh nhân mắc tọa cốt phong mạn tính, lại cảm thụ phong hàn thấp nhiệt chi tà hoặc do lao

lực mỏi mệt sẽ dẫn đến trở trệ sự vận hành khí huyết vùng thắt lưng, hai đường kinh dương bàng quang và đởm ở chân mà gây nên bệnh.

II/ LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG 

  Theo y học cổ truyền :

 Hội chứng đặc trưng

Thường khởi phát đột ngột, triệu chứng đau thường xuất hiện sau một lao động cúi khuân vật nặng sai tư thế, đau tính chất dữ dội, không xoay trở được, nằm yên bất động thì giảm đau, hễ cử động thì đau nhiều. Cũng có thể khởi phát sau nhiễm lạnh, đau tính chất âm ỉ, tăng dần, đau tăng khi vận động và giảm khi nghỉ ngơi.

Khi đi đứng ½ người bên lành hạ thấp (vẹo người về bên lành), chân bên đau hơi co, tay chống vào mạng sườn hoặc đầu gối bên đau.

Đau từ thắt lưng lan xuống mông, xuống mặt sau ngoài đùi, xuống mặt trước ngoài cẳng chân đến mu chân, từ bờ ngoài bàn chân chéo qua mu chân đến ngón chân cái. Hoặc đau từ thắt lưng lan xuống mông, xuống mặt sau giữa đùi, xuống mặt sau ngoài cẳng chân đến gót chân, xuống gan bàn chân, dọc bờ ngoài bàn chân đến ngón chân út. Tùy bệnh nhân có thể đau từ thắt lưng lan xuống chỉ đến đùi, hoặc đến cẳng chân, nếu nặng thì lan xuống đến ngón chân.

Có khi đau buốt nhói như dao đâm hay như bị điện giật. Có thể đau nhói lên từ thắt lưng lan xuống mông và chân khi ho hay hắt hơi. Bệnh mạn tính có thể đau tăng về đêm, khi trời lạnh.

Có thể kèm theo cảm giác tê bì, tăng cảm hoặc dị cảm (tê, nóng, châm chích, kiến bò bên chân đau).

Để lại một bình luận