Y học cổ truyền
Nguyên nhân:
Dựa theo thiên „Thượng Cổ Thiên Chân Luận‟ (Tố Vấn 1), y học cổ truyền
cho rằng phụ nữ bắt đầu suy từ tuổi 42 (tuổi lục thất, tam dương suy, da mặt khô,
tóc bạc…) và đến tuổi 49 (tuổi thất thất, mạch Xung Nhâm suy, kinh kiệt…) và như
vậy ở khoảng tuổi này là phụ nữ hết sinh đẻ, chức năng tạng phủ suy dần mà chủ
yếu là thận khí suy, người phụ nữ bước vào thời kỳ tiền mãn kinh, thận suy chủ yếu
là tinh huyết suy gây nên âm dương mất cân bằng, ảnh hưởng đến sự hoạt động bình
thường của các tạng phủ khác và là nguyên nhân chính của hội chứng tiền mãn
kinh.
Cơ chế bệnh sinh:
Phụ nữ trước và sau mãn kinh thì thận khí dần suy, thiên quý dần kiệt, hai
mạch xung nhâm hư suy làm kinh nguyệt thưa dần và hết hẳn, khả năng sinh sản
giảm dần và hết. Đây là những biểu hiện thay đổi suy giảm sinh lý thường gặp ở
phụ nữ. Nhưng do cơ thể mỗi người một khác, quá trình thận hư, thiên quý kiệt có
liên quan chặt chẽ đến công việc và hoàn cảnh công tác làm cho mất cân bằng âm
dương, khí huyết- tạng phủ không hiệp điều cho nên xuất hiện một loạt các triệu
chứng của thận khí dần suy. Chứng bệnh này chủ yếu là do thận hư, có thể thiên về
âm hư hoặc dương hư, đồng thời ảnh hưởng đến tâm, can, tỳ. Trong quá trình diễn
tiến bệnh, do rối loạn chức năng của tạng phủ nên có thể thấy kèm theo các triệu
chứng của đàm thấp, ứ huyết, khí uất…
– Thận âm hư: Thiên quý dần kiệt, thận âm bất túc. Bẩm tố âm hư hoặc do
sinh đẻ nhiều, sinh hoạt tình dục quá độ làm huyết hao hư nên có thể thấy
chứng thận âm hao hư, dương không được tiềm tàng. Nếu thận thủy bất
túc không hàm dưỡng được can mộc làm can thận âm hư thì dễ gây
chứng can dương thượng cang. Nếu tình chí không được như ý thì có thể
gây chứng khí uất, khí không đưa xuống dưới gây nên chứng huyết ứ nội
trệ.
– Tâm thận bất giao: tâm thuộc quân hỏa, thận chủ nguyên âm. Thận thủy
bất túc nên không đưa lên tâm làm cho tâm hỏa cang thịnh, nhiệt nhiễu
tâm thần, thần minh bất an, dần dần gây nên chứng tâm thận bất giao.
Tâm thận bất giao, thủy và hỏa không tương tế, âm dương mất cân bằng,
khí huyết- tạng phủ không hiệp điều gây nên một loạt các triệu chứng rối
loạn chức năng tạng phủ.
– Thận dương hư: thời kỳ mãn kinh, thận khí dần suy. Nếu bẩm tố dương
hư hoặc quá lạm dụng chất mát lạnh có thể làm cho thận dương hư cấp.
Tỳ là gốc của hậu thiên, không ngừng hóa sinh chất tinh của thủy cốc để
nuôi dưỡng tiên thiên. Nếu mệnh môn hỏa suy, không ôn ấm được tỳ
dương, hoặc do lao động quá sức làm tổn thương tỳ dương thì sẽ gây nên
chứng tỳ thận dương hư. Nếu tỳ thận dương hư, khi không hóa được thủy,
lâu dần làm thấp tụ thành đàm gây nên chứng bệnh đàm thấp; hoặc do
dương khí hư nhược nên không hành được huyết sẽ gây nên chứng huyết
ứ nội đình.
– Thận âm dương lưỡng hư: trong khoảng thời gian trước và sau khi hết
kinh nguyệt thì tinh huyết hao hư, thận dương dần suy, chân âm và chân
dương đều bất túc nên không ôn ấm được tạng phủ, ảnh hưởng đến hóa
sinh khí huyết, các hoạt động sinh lý bình thường của cơ thể mất cân
bằng mà gây nên một loạt các triệu chứng trên.
