BÉO PHÌ
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay trong thực hành lâm sàng sự phối kết hợp y học cổ truyền và y học hiện đại ngày càng được lựa chọn nhiều hơn. Y học hiện đại và Y học cổ truyền đều có những ưu nhược điểm, hai nền y học có thể bổ khuyết cho nhau, làm cho nền y học của loài người ngày càng ưu việt hơn.
Ở những nước phát triển trên thế giới, nền Y học cổ truyền ở những nước này đang được quan tâm, đầu tư, nghiên cứu và phát triển như ở Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản… Bên cạnh đó sử dụng các phương pháp không dùng thuốc châm cứu, xoa bóp, bấm huyệt, dưỡng sinh,… đều đạt được hiệu quả nhất định đối với các bệnh mạn tính, và các bệnh khó thì cần kết hợp giữa Y học cổ truyền và Y học hiện đại.
Hiện nay đã có nhiều các nghiên cứu tại Việt Nam về sự kết hợp giữa y học cổ truyền va y học hiện đại trong điều trị một số bệnh để có thể phục vụ cho công tác điều trị tốt hơn. Chính vì những lí do trên nên tôi chọn chuyên đề: “kết hợp Y học cổ truyền và Y học hiện đại trong điều trị bệnh béo phì”.
I. TỔNG QUAN
1. TỔNG QUAN BÉO PHÌ YHHĐ
Theo đánh giá của tổ chức y tế thế giới thừa cân béo phì đang là đại dịch toàn cầu với mức độ tăng nhanh đáng kể hàng năm ở cả người lớn và trẻ em. Tại Mỹ số bang có tỉ lệ béo phì lớn hơn 15% tăng dần hàng năm, năm 1991 có 4 bang, năm 1993 có 11 bang, năm 1995 có 24 bang, năm 1998 có 37 bang. Tại Việt Nam, đi đôi với tỉ lệ suy dinh dưỡng còn cao thì tỷ lệ người bị béo phì cũng tăng một cách nhanh chóng. Theo điều tra của Viện Dinh dưỡng Quốc gia: Tỷ lệ thừa cân (BMI>=25) ở người Việt Nam trưởng thành cũng tăng nhanh theo thời gian.
| NĂM | VÙNG ĐÔ THỊ | VÙNG NÔNG THÔN |
| 1985 | 0.4% | 0% |
| 1990 | 1.5% | 0% |
| 1995 | – | 1.5% |
| 2000 | 5.4% | 1.7% |
1.1. ĐỊNH NGHĨA BÉO PHÌ:
Béo phì là sự tích tụ bất thường và quá mức khối mỡ tại mô mỡ và các tổ chức khác ảnh hưởng tới sức khỏe. Nguyên nhân cơ bản là do sự dư thừa năng lượng ăn vào trong một thời gian dài.
1.2. NGUYÊN NHÂN:
Có hai nguyên nhân chính gây ra thừa cân béo phì là: nguyên nhân nội sinh và nguyên nhân ngoại sinh.
a) Nguyên nhân nội sinh: (béo phì thứ phát)
Thường chiếm 10% trong tổng số bệnh nhân béo phì.
| NỘI TIẾT | Các đầu mối chẩn đoán |
| Suy giáp | Tăng TSH, Tăng T4 |
| Cường năng tuyến thượng thận | Test ức chế dexamethasone bất thường, tăng cortisol tự do trong nước tiểu 24 giờ. |
| Cường insulin nguyên phát | Tăng insulin huyết thanh, tăng C-peptid |
| Giả nhược cận giáp | Hạ canxi máu, tăng phosphate máu, tăng PTH. |
| Bệnh lý vùng dưới đồi mắc phải | U vùng dưới đồi, nhiễm trùng, chấn thương, sang thương mạch máu. |
| DI TRUYỀN | Các đặc trưng kèm theo |
| Prader-wili | Béo phì, thèm ăn vô độ, chậm phát triển tâm thần, nhược năng tuyến sinh dục, lé |
| Laurece-moon/Barddet Bied | Béo phì, chậm phát triển tâm thần, bệnh lý võng mạc sắc tố, nhược năng tuyến sinh dục, liệt hai chi dưới co thắt |
| Altrom | Béo phì, viêm võng mạc sắc tố, điêc, đái tháo đường |
| Borjeson-Eorssman-Lehmann | Béo phì, chậm phát triển tâm thần, nhược năng sinh dục, giảm chuyển hóa, động kinh |
| Cohen | Béo phì kiểu bụng, chậm phát triển tâm thần, nhược cơ, nhược năng sinh dục |
| Turner’s | Lùn, không phân biệt giới tính, các bất thường tim, cổ có màng (webbed neck), béo phì, kiểu gen 45XO hay 45X |
| Loan dưỡng mô mỡ (lipodystrophy) có tính gia đình | Phì đại cơ, dạng to đầu chi, gan lớn, acathosis nigricans, đề kháng insulin, tăng triglyceride máu, chậm phát triển tâm thần |
| Beckwith-Wiedemann | Không lồ, lồi mắt, lưỡi to |
| Soto’s | Cerebral gigantism, tăng trưởng quá phát, nhược cơ chậm phát triển tâm thần vận động |
| Weaver | Hội chứng quá phát ở trẻ nhỏ, xương trưởng thành nhanh, vẻ mặt bất thường |
| Ruvalca | Chậm phát triển tâm thần, đầu nhỏ, bất thường khung xương, nhược năng sinh dục |
b) Nguyên nhân ngoại sinh: chiếm 90% trong tổng số bệnh nhân béo phì. Nguyên nhân là do năng lượng ăn vào cao hơn năng lượng tiêu hao trong một thời gian dài. Trong đó nguyên nhân gây ra sự dư thừa năng lượng lâu dài được cho rằng có nguyên nhân di truyền và môi trường.
– Nguyên nhân đi truyền: Người ta đã tìm thấy gen béo phì trong tế bào mỡ, có tác dụng mã hóa cho Leptin. Leptin là một protein hoạt động như một hocmon dưới đồi ức chế sự ngon miệng và tăng tiêu hao năng lượng. NgườI béo phì có lượng Leptin ít hơn bình thường.
– Môi trường: Người Ta thấy rằng những người sống ở những môi trường có nhiều thức ăn năng lượng cao như nhiều chất béo, nhiều chất ngọt, ăn nhanh, ăn Nhiều và ít hoạt động thể lực như không gian chật hẹp nhiều tivi, vi tính, nhiều công nghệ cao thì dễ béo phì hơn. Có thể gọi đó là hiện tượng” ngộ độc môi trường”.
1.3. HẬU QUẢ CỦA BÉO PHÌ:
Những người thừa cân-béo phì có tuổi thọ thấp hơn người có cân nặng bình thường và gia tăng nguy cơ mắc phải các bệnh mãn tính không lây liên quan đến dinh dưỡng và lối sống.
Những nguy cơ và tác hại của béo phì:
***Tỷ lệ bệnh tật cao hơn ở người bình thường, đặc biệt là các bệnh:
– Rối loạn lipid máu: tǎng cholesterol máu, giảm HDL, tǎng tỷ lê LDL, tǎng tỷ lệ LDL/HDL gây tǎng tỷ lệ bệnh mạch vành, triglyceride huyết tương tǎng và tǎng LDL apo B. Thường thấy rối loạn chuyển hóa ở hầu hết các bệnh nhân béo phì với tích lũy mỡ trong ổ bụng và thường có liên quan đến tǎng nguy cơ các bệnh tim mạch.
– Bệnh tim mạch: bao gồm tǎng huyết áp, bệnh mạch vành, đều có liên quan tới béo phì. Huyết áp tâm thu và tâm trương đều tǎng khi chỉ số BMI tăng. Người béo phì có nguy cơ bị tǎng huyêt áp cao hơn người bình thường, nguy cơ này càng cao khi béo phì ở tuổi càng trè và thời gian béo phì càng kéo dài. Tǎng cân nhanh là một yếu tố liên quan đến tǎng huyết áp và giảm trọng lượng sẽ có hiệu quả giảm huyết áp. Tăng 7,5mmHg huyết áp tâm trương dẫn tới tăng 29% nguy cơ bệnh mạch vành và 46% nguy cơ đột quỵ. Theo kết quả điều tra quốc gia của Mỹ (1994) thì tỷ lệ tăng huyết áp ở người béo phì gấp 2,9 lần so với người không béo phì. Tỷ lệ tử vong do bệnh lý tim mạch cao hơn ở những người không béo phì dù cân nặng chỉ tăng 10%.
– Bệnh đái tháo đường: mối liên hệ chặt chẽ giữa bệnh đái tháo đường không phụ thuộc Insulin (tiểu đường tuýp 2) và béo phì. Đái tháo đường không phụ thuộc Insulin tăng lên liên tục khi BMI tăng và giảm đi khi cân nặng giảm. Những người béo có tỉ lệ đái tháo đường tăng gấp 3,5 lần tỉ lệ chung. Bệnh đái tháo đường không phụ thuộc insulin ở người phụ nữ 30 – 35 tuổi cao gấp 40 lần ở người béo phì, người có BMI < 22. Một nghiên cứu gần đây cho thấy có thể giảm tới 64% trường hợp đái tháo đường tuýp 2 ở nam và 74% ở nữ nếu BMI không vượt quá 24.
– Bệnh sỏi mật: béo phì làm tăng nguy cơ sỏi mật ở mọi lứa tuổi và giới gấp 3 – 4 lần, nguy cơ này cao hơn khi mỡ tập trung ở vùng bụng. Ở người béo phì, cứ 1 kg mỡ thừa làm tăng tổng hợp 20 mg cholesterol/ngày. Đó làm tăng bài tiết mật, tăng mức bão hòa Cholesterol trong mật, cùng với mức cơ động của túi mật giảm dẫn đến bệnh sỏi mật.
– Ung thư: có mối liên hệ chặt chẽ giữa thừa cân, béo phì và tỷ lệ mắc ung thư thuộc hormon và ung thư đường ruột. Ở phụ nữ mãn kinh, các nguy cơ ung thư túi mật tăng lên ở những người béo phì, còn ở nam giới béo phì bệnh ung thư thận và tuyến tiền liệt hay gặp hơn.
– Ngoài ra, béo phì còn là yếu tố nguy cơ của một số bệnh khác, như: bệnh xương khớp, hô hấp, gout…
Tỷ lệ tử vong
Ngoại trừ những người có hút thuốc và bệnh lý mãn tính tỷ lệ chết sớm có liên quan tới BMI của bệnh nhân. Với BMI> 22 thì tỷ lệ tử vong tăng dần tỷ lệ thuận với mức gia tăng của BMI.
Rối loạn nội tiết và chuyển hóa liên quan với béo phì
Người ta cũng quan sát thấy sự thay đổi hormon ở những người béo phì. Người có tích lũy mỡ trong ổ bụng như tăng đề kháng Insulin và tăng bài tiết Insulin, tăng tiết tố nam tự do liên quan tới hormon giới tính gắn kết globulin (Sex hormone Binding globulin) ở phụ nữ, giảm nồng độ progesteron ở phụ nữ, giảm nồng độ testosterone ở nam, tăng sản xuất Clotisol, giảm nồng độ hócmôn tăng trưởng…
Hậu quả của béo phì và thừa cân ở trẻ em và thanh thiếu niên
Trẻ em bị béo phì cũng có nguy cơ của các bệnh giống như người lớn nhưng có nguy cơ nặng hơn vì thời gian kéo dài và ảnh hưởng tới nội tiết và yếu tố tinh thần.
Tỷ lệ mắc bệnh tăng
Hội chứng béo phì ở trẻ em và thanh thiếu niên bao gồm: các vấn đề tâm lý, yếu tố nguy cơ mắc bệnh tim mạch, chuyển hóa bất thường glucose, rối loạn gan-mật đường ruột, khó thở khi ngủ và biến chứng giải phẫu (Bảng 21.3).
Hầu hết các hậu quả lâu dài của trẻ em béo phì là dai dẳng cho đến thanh niên và liên quan tới tất cả các yếu tố nguy cơ cho sức khỏe.
Bảng 21.3 hậu quả của trẻ em béo phì
| Tỷ lệ cao | Tỷ lệ trung bình | Tỷ lệ thấp |
| – Lớn nhanh hơn
– Vấn đề tâm lý xã hội – Kéo dài đến hết thời niên thiếu (Đối với trẻ béo phì bắt đầu muộn và nặng) – Rối loạn lipid máu |
– Chứng nhiễm mỡ gan
– Hóa bất thường glucose – Kéo dài cho đến hết thời niên thiếu (Phụ thuộc vào tuổi bắt đầu và tính nghiêm trọng) |
– Biến chứng giải phẫu
– Khó thở khi ngủ – Hội chứng đa nang buồng trứng – Bệnh sỏi mật – Tăng huyết áp |
Ảnh hưởng tâm lý xã hội
Trẻ bị béo phì hồi nhỏ thường kéo dài cho đến hết thời gian thiếu niên, có chức năng tâm lý xã hội kém, giảm thành công trong học tập và thường không khỏe mạnh.
Các yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch
Rối loạn lipid máu, tăng huyết áp và kháng Insulin thường thấy ở trẻ em béo phì và rối loạn lipid máu xuất hiện liên quan với tăng tích lũy mỡ trong ổ bụng. Những rối loạn lipid máu, huyết áp và Insulin máu ở trẻ em sẽ kéo dài đến thời kỳ thanh niên. Tình trạng béo phì ở trẻ em tại thời điểm ban đầu đã được đoán trước và có ý nghĩa sức khỏe khi trưởng thành.
Biến chứng gan
Các biến chứng gan ở trẻ em béo phì đã được ghi nhận, đặc biệt đặc tính nhiễm mỡ gan và triệu chứng tăng transaminase huyết thanh. Các bất thường men gan cũng có thể liên quan với bệnh sỏi mật, nhưng thường hiếm gặp ở trẻ em và thanh thiếu niên.
Các biến chứng về giải phẫu
Trẻ em bị béo phì có thể bị các biến chứng về giải phẫu. Nghiêm trọng nhất là bệnh Blount (một dị dạng xương chày do phát triển quá mạnh) dễ bị bong gân mắt cá chân.
Các biến chứng khác
Người ta cũng đã thấy hàng loạt các biến chứng khác ở trẻ em béo phì, bao gồm: khó thở khi ngủ và bệnh giả u não. Khó thở khi ngủ có thể gây chứng thở quá chậm và thậm chí ở những trường hợp nặng có thể gây tử vong. Bệnh giả u não là một bệnh hiếm gặp liên quan đến tăng áp suất trong sọ não, đòi hỏi cần phải đi khám ngay.
2. TỔNG QUAN BÉO PHÌ YHCT:
Béo phì nguyên nhân có thể do di truyền hoặc ăn uống quá nhiều thức ăn, thức uống béo ngọt, và lười vận động mà gây ra khí hư, đàm thấp thiên thịnh.
Trước đời nhà Hán, sách vở có ghi chép những hiện tượng có liên quan tới triệu chứng béo phì, cũng đề cập đến nguyên nhân bệnh, cơ chế bệnh, và sự nguy hại của bệnh. Nội kinh có ghi “phì quý nhân” và “niên ngũ thập, thể trọng, vả mục bất thông minh hề”. “Kim quỹ yếu lược – huyết tý hư lao bệnh mạch chứng tịnh trị” có nói: “Phu tôn vinh nhân cốt nhục cơ phục thịnh”. “Tố vấn –Kỳ bệnh luận” lại nói: “phì giả lệnh nhân nội nhiệt, cam giả lệnh, nhân trung mãn:” Tố vấn – Tuyên minh ngũ khí luận” nói:” cửu ngoạ thương khí, cửu toạ thương nhục”. Ý chỉ người ăn nhiều đồ ăn béo ngọt và thiếu vận động chính là một trong những nguyên nhân gây béo phì. Và rất sớm người ta đã nhận ra, béo phì dễ gây tiêu khát, trúng phong, hung tý…., thậm chí ảnh hưởng đến tuổi thọ cho nên có câu:” nhục kiên tắc thọ, nhục thuý (giòn, yếu) tắc yểu (chết non)”.
Khi thể trạng béo kèm theo khí hư, đàm thấp thiên thịnh cũng là đồng nghĩa với béo phì có thể gặp trong bệnh vùng dưới đồi-tuyến yên, bệnh tuỵ tạng và suy giáp trạng.
2.1. NGUYÊN NHÂN BỆNH YHCT:
a) Người già cơ thể suy nhược
Béo phì phát sinh có liên quan đến tuổi 40 tuổi trở lên tăng cân rõ ràng. Nguyên nhân sau tuổi trung niên chức năng sinh lý của cơ thể dần lão suy.
+ Chức năng vận hóa của tỳ suy giảm, nếu cộng thêm ăn quá nhiều đồ béo ngọt, vận hóa không kịp, thì thấp tụ sinh đàm, đàm thấp úng kết.
+ Hơn nữa người già thận dương lão suy, không thể khí hóa hành thủy, nội sinh thủy thấp đàm trọc.
b) Ẩm thực bất tiết:
Bảo ẩm bảo thực, lượng ăn quá nhiều, hoặc ăn quá nhiều thực phẩm béo ngọt, thường xuyên ẩm thực bất tiết:
+ Dẫn đến thủy cốc tinh vi trong cơ thể tích tụ thành mỡ, hình thành béo phì.
+ Có thể tổn thương tỳ vị, không thể bố tán thủy cốc tinh vi và vận hóa thủy thấp, khiến cho thấp trọc nội sinh, uẩn ủ thành đàm, đàm thấp tích tụ trong cơ thể, khiến người mập lên thành béo phì.
c) Thiếu sự vận động:
Thường xuyên ngồi lâu nằm lâu, thiếu vận động, tắc khí huyết vận hành không thông, tỳ vị đình trệ, không thể vận hóa, không thể vận chuyển phân bố thủy cốc tinh vi, hóa thành đàm trọc và mỡ, tích trong cơ phu, tạng phủ, kinh lạc, hình thành béo phì.
d) Bệnh lâu ngày chính khí hư
Ở người bệnh lâu thường có biểu hiện khí huyết âm dương hư thoái, khí hư thì vạn hóa vô lực, dương hư thì âm hàn nội sinh, huyết hành sáp trệ. Đàm ứ thấp trọc nội sinh thường hình thành béo phì.
Do đó béo phì không chỉ là biểu hiện của một bệnh chứng mà còn là biểu hiện bệnh thứ phát của các bệnh khác ví dụ tiêu khát.
e) Tổn thương tình chí.
Ngũ tạng đều có thể tàng thần. Khi tình chí quá cấp sẽ ảnh hưởng chức năng tạng phủ như: ưu thương phế, nộ thương can, tư thương tỳ, hỷ thương tâm, khủng thương thận.
Khi thất tình tổn thương thì chức năng tang phủ thất điều, thuỷ cốc không thể vận hoá, dẫn đến thuỷ thấp nội đình, đàm thấp tích tụ mà thành bệnh.
II. LÂM SÀNG:
1. Y Học Hiện Đại:
1.1. CHẨN ĐOÁN:
ĐỐI VỚI NGƯỜI LỚN
Tỷ lệ mỡ cơ thể
Đánh giá béo phì chính xác nhất là đo được số lượng mỡ trong cơ thể. Có nhiều cách đánh giá sự tích tụ mỡ trong cơ thể. Để đánh giá khối lượng mỡ trong cơ thể ta có thể đo trực tiếp hoặc gián tiếp như: đo tỉ trọng nước cơ thể, đếm K40 , đo nồng độ nước, độ khuếch tán các khí hòa tan trong chất béo, MRI, điện trở sinh học, bề da…
Tuy nhiên, những biện pháp này tốn kém, mất thời gian và gây khó chịu cho bệnh nhân, nên chỉ áp dụng trong phòng thí nghiệm và để nghiên cứu. Sự phát triển của các loại cân điện tử giúp đo được tỉ lệ mỡ cơ thể một cách dễ dàng và tương đối chính xác, thường được ứng dụng ở các cơ sở chuyên khoa dinh dưỡng. Giới hạn tỷ lệ mỡ dùng chẩn đoán tình trạng béo phì thay đổi tùy theo độ tuổi, giới tính…trung bình ở nam giới từ tuổi trung niên là 25 và nữ giới là 30.
| Tuổi (năm) | Tỷ lệ mỡ Cơ Thể (%) | |
| Nam | Nữ | |
| <15
15-30 >30 |
Thay đổi
<22 <25 |
Thay đổi
<27 <30 |
BMI (Body Mass index)
Thực tế, người ta có thể đánh giá khối lượng mỡ cơ thể một cách gián tiếp thông qua chỉ số khối cơ thể (Body Mass index – BMI) vì
BMI có liên quan chặt chẽ tới khối mỡ cơ thể và những nguy cơ bệnh lý liên quan tới béo phì (bảng 21.4).
Bảng 21.4 bảng phân loại thừa cân béo phì của WHO (1998) Và của IDE và WPRO (2000) cho các nước châu Á:
| WHO, 1998
BMI (kg/m2) |
IDI& WPRO, 2000
BMI (kg/m2) |
|
| Nhẹ cân (CED)
TTDD bình thường Thừa cân
|
<18,5
18,5-24,9 >=25,0 25,0-29,9 30,0-34,9 35,0-39,9 >40,0 |
<18,5
18,5-24,9 >=23 23-24,9 25,0-29,9 >30 |
Chú thích:
IDI: International Diabetes Institute (Viện nghiên cứu bệnh đái tháo đường thế giới).
WPRO: Western Pacific Region Organization (Cơ quan khu vực Thái Bình Dương của Tổ chức Y tế Thế giới).
CED: Chronic Energy Deficiency (Bệnh thiếu năng lượng mãn tính).
Chỉ số W/H (Waist/ Hip Ratio)
Nếu tỉ lệ vòng eo/vòng mông lớn hơn 0,9 ở nam và 0,8 ở nữ thì được đánh giá béo phì và có nguy cơ sức khỏe.
Số đo vòng bụng tuyệt đối
Số đo vòng bụng tuyệt đối cũng có giá trị ước lượng nguy cơ của béo phì với sức khỏe. Giới hạn đánh giá của số đo này là 80 ở nữ và 90 ở nam.
ĐỐI VỚI TRẺ EM:
Đánh giá béo phì sớm và đơn giản nhất là theo dõi biểu đồ tăng trưởng và chỉ số cân nặng theo chiều cao (CN/CC), chỉ số khối cơ thể (BMI) theo tuổi.
Biểu đồ tăng trưởng
Cân và đo chiều cao trẻ hàng tháng khi trẻ dưới 12 tháng tuổi, mỗi 2 tháng khi trẻ từ 12 tới 24 tháng tuổi. Những trẻ tăng cân nhanh và cân nặng vượt quá đường cao nhất của biểu đồ thì có nguy cơ béo phì.
Cân nặng theo chiều cao hoặc BMI theo tuổi
Với trẻ trên 2 tuổi, tốt nhất là sử dụng chỉ số CN/CC hoặc BMI theo tuổi để đánh giá thừa cân – béo phì. Trẻ em thừa cân và béo phì khi CN/CC lớn hơn +2SD hoặc BMI theo tuổi lớn hơn 85th. Ngoài ra, để đánh giá béo phì ở trẻ em có thể thêm chỉ số bề dày lớp mỡ dưới da ở cơ tam đầu và cơ dưới bả vai lớn hơn 90th (WHO -1995).
1.2. BIẾN CHỨNG
Ở người lớn
– Tăng nguy cơ sỏi mật.
– Suy kiệt: khi chế độ ăn có mức năng lượng quá thấp.
Ở trẻ em
– Bệnh lý túi mật. điều này xảy ra nhiều nhất ở trẻ vị thành niên giảm cân nhanh.
– Thiếu các chất dinh dưỡng do chế độ ăn năng lượng quá thấp.
– Tốc độ tăng trưởng có thể chậm trong quá trình sụt cân. Tuy nhiên, hầu hết các trẻ béo phì đều cao nên tác động lên chiều cao lúc trưởng thành rất ít. hiệu quả của sụt cân nhanh. (>0.5 kg/ tháng) ở trẻ nhỏ hơn 7 tuổi còn chưa được biết.
– Chương trình sụt cân có thể làm tổn thương xúc cảm tâm thần. Các rối loạn hành vi ăn uống (chán ăn tâm thần, cuồng ăn….) có thể xảy ra. Sự bận tâm, lo lắng của cha mẹ hoặc của bản thân trẻ về cân nặng có thể làm giảm tính tự tin của trẻ. Nếu cân nặng, tiết chế và hoạt động thực thể trở thành mối xung khắc, quan hệ của trẻ với gia đình có thể xấu đi. Lúc này cần phải hội chẩn chuyên viên tâm lý và ngừng chương trình điều trị cho đến khi có thể tiếp tục điều trị mà không gây ra các tác dụng có tác hại cho tâm lý của trẻ.
Duy trì mục tiêu điều trị là công việc khó khăn nhưng thực sự cần thiết vì béo phì là một bệnh mãn tính cần sự quan tâm suốt đời về hành vi ăn uống và lối sống khỏe mạnh. Sau khi đạt được mục tiêu ban đầu, cả gia đình lẫn trẻ cần phải tích cực duy trì những thói quen tốt đã đạt được.
2. Y Học Cổ Truyền:
2.1. CHẨN ĐOÁN
Gặp nhiều nhất nữ 40-50 tuổi.
– Triệu chứng lâm sàng: Béo phì, Khí đoản, mệt mỏi, uể oải, tự hãn, tâm quý, chóng mặt, ăn nhiều bụng trướng, tiêu phân lỏng, phù chi, sợ nóng hoặc sợ lạnh, đau mỏi thắt lưng gối, kinh nguyệt không đều, lưỡi nhạt bệu có dấu răng hoặc lưỡi hồng rêu mỏng hoặc rêu trắng dơ, vàng dơ, mạch nhu hoặc mạch trầm tế nhược hoặc hoạt sác.
Chẩn đoán xác định khi:
+ Vượt quá trọng lượng tiêu chuẩn cơ thể 20%, trong đó trọng lượng tiêu chuẩn cơ thể được tính theo công thức sau:
Trọng lượng cơ thể = (chiều cao (cm)-100) *0.9 (a)
+ Chỉ số thể trọng (tức là BMI, Body Mass Index) vượt quá 23 cũng chẩn đoán là béo phì (dựa vào tiêu chẩn chẩn đoán béo phì ban hành năm 2000 của hiệp hội đái tháo đường các nước Chân Á), trong đó chỉ số thể trọng được tính theo công thức:
BMI= Thể trọng (Kg)/ chiều cao 2 (m2) (b)
Kèm theo nhiều triệu chứng khác như: mệt mỏi, vô lực, lười nói, khí đoản, bụng đầy, rêu lưỡi dày, mạch nhu hoạt. (c)
Chẩn đoán xác định khi: đạt tiêu chuẩn a và c hoặc b và c
– Phân mức độ béo phì dựa vào trọng lượng cơ thể:
+ Nếu trọng lượng cơ thể vượt quá tiêu chuẩn từ 20-30% là béo phì nhẹ.
+ Nếu trọng lượng cơ thể vượt quá tiêu chuẩn từ 31-50% là béo phì trung bình.
+ Nếu trọng lượng cơ thể vượt quá tiêu chuẩn từ 50% là béo phì nặng.
Phân độ béo phì dựa vào chỉ số thể trọng theo hiệp hội đái tháo dường các nước Châu Á:
+ 18.5<= BMI<=22.9: Bình thường.
+ BMI=23: Thừa cân.
+ 23<=BM<= 24.9: Tiền béo phì.
+ 25<=BMI<= 29.9: Béo phì độ I.
+ 30<= BMI: Béo phì độ II.
Một số trường hợp mỡ mại tập trung ở vùng eo mông thì cần căn cứ chỉ số vòng eo/ vòng mông và độ dày mỡ để chẩn đoán, chỉ số eo/ mông (WHR) được tính theo công thức:
*WHR= Vòng eo (cm)/ Vòng mông (cm).
*Béo phì khi WHR>=0.95 ( đối với nam) hoặc WHR >= 0.85 đối vối nữ.
2.2. CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT
– Thủy thũng: khi nghiêm trọng, thể trọng cũng tăng, cũng có thể xuất hiện triệu chứng kèm theo của béo phì, nhưng triệu chứng chính của thủy thũng là sưng phù vùng mặt và tứ chi, bệnh nặng có thể bụng trướng mãn, toàn thân đều phù. Thủy thũng sau khi điều trị, thủy thấp được bài trừ ra ngoài, thể trọng nhanh chóng giảm hẳn, trở về bình thường. ccon2 bệnh nhân béo phì thể trọng giảm tương đối chậm.
– Bệnh hoàng bạng: Là bệnh có biểu hiện lâm sàng toàn thân ủy hoàng, nhưng không vàng mắt, mặt chân phù thũng, mệt mỏi yếu sức. Nguyên nhân có thể do trùng tích lâu ngày, hoặc do thực tích lâu ngày, hoặc do lao dịch kiệt sức làm hao tổn khí huyết. Nếu do trùng tích thì còn có triệu chứng kèm theo như nôn ói nước vàng, thích ăn dị vật như gạo sống, lá trà, bùn đất. Nếu do thực tích thì có thể kèm ăn kém, hấp thu kém, miệng đắng, bụng trướng… còn gọi là thực lao cam hoàng. Nếu do lao dịch kiệt sức thì còn gọi là thoát lực hoàng.
III. ĐIỀU TRỊ
1. Y Học Hiện Đại:
Điều trị béo phì:
– Mục tiêu: sống khỏe mạnh, giảm biến chứng, ít bệnh tật với cân nặng hợp lý.
– Nguyên tắc: tạo thăng bằng năng lượng âm tính bằng cách giảm năng lượng ăn vào và tăng năng lượng tiêu hao.
– Các phương pháp:
a) Thay đổi chế độ ăn:
Nguyên tắc thay đổi chế độ ăn:
– Giảm năng lượng, đủ chất dinh dưỡng: khi xây dựng chế độ ăn năng lượng thấp, thực khoáng để đảm bảo đủ sức khỏe và sự phát triển, đáp ứng đủ năng lượng cho hoạt động thể lực.
– Tạo được sự thiếu hụt năng lượng: cân bằng năng lượng âm tính khoảng 500-1.000Kcal mỗi ngày. Tùy mức độ béo phì và mục tiêu điều trị mà giảm năng lượng của khẩu phần ăn tuy nhiên, cần giảm từng bước một, mỗi tuần giảm khoảng 300 kcal so với khẩu phần ăn hiện tại của bệnh nhân cho đến khi đạt năng lượng tương ứng với mức BMI.
Ví Dụ:
BMI từ 25-29.9: năng lượng ăn vào là 1.500Kcal/ngày.
BMI từ 30-34,9: năng lượng ăn vào là 1.200 Kcal/ ngày
BMI từ 35-39.9: năng lượng ăn vào là 1.000kcal/ngày
BMI từ >=40: năng lượng ăn vào là 800Kcal/ngày
Khẩu phần ăn có năng lượng thấp hơn 800 Kcal phải được theo dõi chặt chẽ trong cơ sở điều trị nội trú.
Thành phần các chất dinh dưỡng nên giữ như sau:
Lipid giảm nguồn năng lượng từ chất béo, càng thấp càng có hiệu quả giảm cân, nên ở mức 15% năng lượng. Trong đó, các acit béo no chiếm tỉ lệ thấp, acit béo không no có một nối đôi và nhiều nối đôi chiếm tỉ lệ cao.
– Tránh tất cả các thực phẩm nhiều chất béo: thịt mỡ, thịt chân giò, nước dùng thịt, bơ, phomat …
– Tránh các thực phẩm nhiều cholesterol: não, tim, gan, thận, lòng lợn….
– Tránh các món ăn có đưa thêm chất béo: bánh mì bơ, trộn rau, các món xào, rán….
Protein: Protein có thể từ 15 đến 25% năng lượng của khẩu phần. thực tế lâm sàng cho thấy chế độ ăn thấp béo, cao protein có hiệu quả giảm cân có ý nghĩa.
Glucid: nên sử dụng những glucid có nhiều chất xơ, như: bánh mì đen, ngũ cốc nguyên hạt, khoai củ có đậm độ năng lượng thấp, không đắt tiền, luôn có sẵn và là nguồn protein quý, vitamin và khoáng chất tốt.
Đậm độ năng lượng thấp: tổng số năng lượng trong một đơn vị thực phẩm thấp đủ Vitamin, muối khoáng: thực phẩm đa dạng. bổ sung viên đa vitamin, khoáng chất và vi khoáng tổng hợp, đặc biệt khi khẩu phần năng lượng thấp dưới 1.200Kcal/ngày.
Rau và quả chín: 500gr/ngày, là nguồn cung cấp chất xơ, vitamin và chất khoáng.
Muối: hạn chế muối ăn dưới 6 gam /ngày. Nếu có tăng huyết áp thì nên dùng 2-4g/ngày. Tạo thói quen ăn uống điều độ: không bỏ bữa ăn, ăn đúng giờ, số bữa ăn nên 3 bữa/ngày.
Nên tránh ăn các thức ăn nhiều đường đơn giản như: đường, mứt, bánh ngọt, kẹo, sôcôla, nước ngọt….
Các thức uống không nên dùng: không uống rượu, bia, cà phê, các đồ uống có chất kích thích.
b) Tăng cường hoạt động thể lực:
Hoạt động thể lực là những vận động cơ bắp gây tiêu hao năng lượng góp phần làm cân bằng năng lượng âm tính. Đồng thời hoạt động thể lực cũng góp phần làm giảm cơ hội ăn nhiều. Những hoạt động thể lực có thể là những bài tập có giờ giấc, có khuôn mẫu, cũng có thể là những động tác tự do bình thường tranh thủ trong những lúc nhàn rỗi. Tốt nhất là luôn giữ lối sống năng động như đi bộ, đi xe đạp, làm việc nhà….
Những vận động được chia theo cách tiêu hao năng lượng như sau:
– Vận động mạnh: tức là các vận động gắng sức nhiều như khi chơi thể thao hay làm các công việc nặng nhọc như: khiêng, xách, đẩy, kéo vật nặng…. Năng lượng tiêu hao khoảng 400Kcal/giờ (tối đa 600Kcal/giờ).
– Vận động vừa: các vận động phải gắng sức ít như tập thể dục, đi bộ nhanh, chơi các trò chơi vận động… năng lượng tiêu hao khoảng 300Kcal/giờ.
– Vận động nhẹ: là các vận động không cần gắng sức như: lau nhà, quét sân, đi bộ chậm…. năng lượng tiêu hao khoảng 200Kcal/giờ.
– Vận động rất nhẹ: là các vận động như: nằm, ngồi một chỗ, đọc sách báo, xem tivi, làm việc tại bàn giấy, làm việc trên máy vi tính…. năng lượng tiêu hao khoảng 100-120 Kcal/giờ.
Thông thường, mỗi lần tập năng lượng tiêu hao tối thiểu phải đạt là 300kcal mới có thể đặt hiệu quả giảm cân. Nói chung, nên tập đến khi thở nhanh, vã mồ hôi, tim đập nhanh. Mỗi tuần nên tập tối thiểu 3-4 lần. Tập dưới 3 lần mỗi tuần thường không mang lại hiệu quả tiêu bớt mỡ thừa, ngược lại chỉ có tác dụng kích thích tiêu hóa ăn uống ngon miệng hơn. Thời gian tập mỗi lần phù hợp với loại hình tập, cường độ tập và tình trạng sức khỏe. Các loại hình tập nhẹ với cường độ không cao thường phải tập với thời gian dài hơn và ngược lại.
c) Các biện pháp hỗ trợ
Thuốc: hiện nay FDA chị cho phép sử dụng loại thuốc sau trong điều trị giảm cân:
– Ortistat: ức chế men lipase của tuyến tụy dẫn đến ức chế tiêu hóa mỡ và giảm hấp thu mỡ. tác dụng phụ là tiêu nhiều lần, phân mỡ, giảm hấp thu vitamin trong mỡ. Ngoài ra có nhiều loại thuốc khác cũng có tác dụng giảm cân nhưng không được khuyến cáo sử dụng do có nhiều tác dụng phụ nguy hiểm thậm chí gây tử vong.
– Cây ma hoàng.
– Hormon tuyến giáp.
– Amphetamin
– Thảo dược gây nhuận tràng. ****Tác dụng phụ là tiêu chảy, nôn, chuột rút.****
– Sibutramin.
Thực phẩm chức năng, thực phẩm thay thế: là các loại thực phẩm được chế biến riêng cho mục đích giảm cân, dùng thay thế một phần các thực phẩm thông thường để giúp giảm năng lượng anh vào và cung cấp đủ các chất dinh dưỡng quý dễ thiếu hụt trong quá trình ăn kiêng.
Thành phần chính của các thực phẩm này thường bao gồm:
– Sữa gầy: cung cấp protein và vi chất dinh dưỡng
– Chất xơ hòa tan: hút nước trương nở làm đầy dạ dày nên giảm cảm giác đói.
– Vitamin và khoáng chất.
Chú ý: không dùng thuốc để điều trị béo phì ở trẻ em.
d) Phẫu thuật:
Chỉ áp dụng khi các biện pháp khác không có hiệu quả và béo phì có biến chứng.
– Hút mỡ: có giá trị như một biện pháp làm đẹp hơn là điều trị bệnh. Hút mỡ giúp giảm béo thụ động, béo phì có thể trở lại nếu không thay đổi cách sống. Hút mỡ giảm được lượng mỡ dự trữ dưới da trong các mô lỏng lẻo chứ không giảm lượng mỡ lắng đọng trong các mô, cơ quan nên không làm giảm nguy cơ bệnh lý.
– Làm hẹp dạ dày bằng phẫu thuật thu hẹp dạ dày hay đặt bóng dạ dày: Mục tiêu giảm khối lượng thức ăn ăn vào.
– Nối tắt ruột: có tác dụng tăng cường tốc độ vận chuyển thức ăn qua ruột dẫn đến giảm hấp thu thức ăn.
Thủ thuật: Như massage, xông hơi,…: thường không có tác dụng giảm mỡ thật sự, chỉ hỗ trợ có thể lưu thông máu huyết, giãn cơ.
e) Thay đổi hành vi và tâm lý liệu pháp:
Mục tiêu: giữ gìn lối sống năng động và chống mặc cảm, tự ti.
Điều trị béo phì ở trẻ em: trẻ em là một cơ thể đang phát triển nên mục tiêu điều trị béo phì của trẻ em không phải chỉ là giảm cân. Trái lại, nếu giảm cân không đúng sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe của trẻ. Tùy theo tình trạng sức khỏe, bệnh tật của trẻ mà có những mục tiêu điều trị khác nhau. Mục tiêu quan trọng nhất là thay đổi hành vi về ăn uống và tăng cường lối sống năng động. mục Tiêu tiếp theo là điều trị những biến chứng nếu có. Sau cùng mới là giảm cân.
Chỉ phải giảm cân để BMI <85th percentile. Đối với các trẻ lớn hơn 2 tuổi bị béo phì có biến chứng, trẻ lớn hơn 7 tuổi bị béo phì nặng (BMI > 95th percentile hoặc CN/CC> 140%). Tốc độ giảm cân thích hợp là khoảng 500 g mỗi tháng. Các trường hợp còn lại mục tiêu cân nặng là duy trì cân nặng hiện tại của trẻ, chờ BMI giảm khi trẻ cao lên.
Cần có chương trình điều trị béo phì cho trẻ với yêu cầu dễ áp dụng, dễ duy trì không làm trẻ tách biệt với cộng đồng.
2. Y Học Cổ Truyền:
a) Vị nhiệt trệ tỳ:
– Triệu chứng: Ăn nhiều mau đói, xót ruột ợ chua, ăn vô thì đỡ, thể trạng mập bệu, bụng thường đầy trướng, sắc mặt hồng nhuận, miệng khô đắng, tâm phiền, chóng mặt, lưỡi đỏ, rêu vàng dơ, mạch huyền hoạt.
– Trị pháp: Thanh vị tả hỏa, tiêu đạo.
– Phương dược: Tiểu thừa khí thang hợp bão hòa hoàn gia giảm.
TIỂU THỪA KHÍ THANG (小承氣湯)

Đại hoàng -> Tả nhiệt thông tiện.
Chỉ thực, hậu phác -> Hành khí tán kết, tiêu bĩ trừ mãn.
BẢO HÒA HOÀN (保和丸)

Sơn tra -> Tiêu trừ tất cả những tích trệ đồ ăn, đặc biệt thiên về tiêu hóa thức ăn dầu mỡ thịt.
Thành khúc -> Tiêu thực kiện tỳ hóa trừ rượu thịt ứ đọng.
Lai phục tử -> Hạ khí tiêu thực nhất là các loại ngũ cốc.
Bán hạ trần bì -> Thanh khí hóa trệ.
Phục linh -> Kiện tỳ lợi thấp.
Liên Kiều -> Thanh nhiệt tán kết.
b) Tỳ hư bất vận
Triệu chứng: Béo mập bệu, thân thể nặng nề, tinh thần mệt mỏi, uể oải, ngực tức bụng chướng, phù nhẹ tứ chi nặng về buổi chiều hoặc sau lao động mệt nhọc, ăn uống bình thường hoặc hơi giảm, trước đây đã từng có những lần bạo thực bạo ẩm, tiểu tiện không thông, tiêu phân lỏng hoặc táo bón, lưỡi nhạt bệu có dấu răng, rêu trắng mỏng hoặc trắng dơ, mạch nhu tế…
Trị pháp: Kiện tỳ ích khí, thẩm lợi thủy thấp.
Phương dược: Sâm Linh Bạch Truật Tán (參苓白朮散) kết hợp Phòng Kỷ Hoàng Kỳ Tham Gia Giảm (防己黃耆參加減).
PHÒNG KỶ HOÀNG KỲ THAM (防己黃耆參)
SÂM LINH BẠCH TRUẬT TÁN (參苓白朮散)

Tứ quân + hoàng kỳ, sơn dược, ý dĩ -> kiện tỳ ích khí thẩm thấp.
Phòng kỷ gia: trư linh, trạch tả -> lợi thủy, phát huy tác dụng kiện tỳ ích khí, thẩm lợi thấp thủy, giảm phì.
c) Đàm trọc nội thịnh
Triệu chứng: Béo mập, cơ thể nặng nề, tay chân uể oải, hung cách bĩ mãn, đàm dãi úng thịnh, hoa mắt chóng mặt , nôn ói không muốn ăn, miệng khô mà không muốn uống nước, thích ăn đồ béo ngọt, uống rượu, thần trí lờ đờ buồn ngủ, rêu lưỡi trắng dơ hoặc trắng nhớt, mạch hoạt.
Trị pháp: Táo thấp hóa đàm, lý khí tiêu bĩ.
Phương dược: ĐẠO ĐÀM THANG GIA GIẢM (導痰湯加減 )

Bán hạ -> Táo thấp hóa đàm.
Trần bì -> Lý khí hóa đàm.
Phục linh -> Kiện tỳ thẩm thấp hóa đàm.
Sinh khương -> Giáng khí hóa đàm.
Chỉ thực -> Hành khí hóa đàm.
Nam tinh -> Khứ phong hóa đàm.
Cam thảo -> Ích tỳ, tỳ vượng sẽ thắng thấp.
d) Tỳ thận dương hư
Triệu chứng: Hình thể béo phì, mạch hơi phù, phù hai chân , mệt mỏi thích ngủ, khí đoản, khí suyễn tăng khi vận động, bụng trướng, tiêu phân lỏng, tự hãn, úy hàn chi lãnh, tiểu đêm nhiều ngày ít, lưỡi nhạt bệu, rêu trắng mỏng, mạch trầm tế.
Trị pháp: Ôn bổ tỳ thận, lợi thủy hóa ẩm.
Phương dược: Chân Vỏ Thang (真武湯) kết hợp Linh Quế Truật Cam Thang Gia Giảm (苓桂朮甘湯加減).
CHÂN VỎ THANG (真武湯)
LINH QUẾ TRUẬT CAM THANG (苓桂朮甘湯)

Phụ tử, Quế chi -> Ôn bổ tỳ thận, ôn dương hóa khí, lợi thủy hóa ẩm.
Phục Linh -> Kiện tỳ thẩm thấp, lợi thủy tà.
Bạch Truật -> Kiện tỳ táo thấp, lợi thủy thấp.
Bạch thược -> Hoãn cấp và lợi tiểu.
Cam thảo -> Ích khí hòa trung.
e) Khí trệ huyết ứ
Triệu chứng: Thể hình mập béo, sắc mặt đỏ tía hoặc đỏ tối, ngực sườn tức trướng, tâm phiền, dễ giận, mất ngủ, hoặc ngủ không ngon, đại tiện táo kết, lưỡi đỏ tối hoặc có ứ điểm, ứ ban, hoặc gân xanh nổi dưới lưỡi, mặt trầm huyền hoặc sáp.
Trị pháp: Hoạt huyết hóa ứ, hành khí tán kết.
Phương dược: Huyết Phủ Trục Ứ Thang (血府逐瘀湯) kết hợp Thấp Tiếu Tán Gia Giảm (濕笑散加減).
HUYẾT PHỦ TRỤC Ứ THANG (血府逐瘀湯)
THẤP TIẾU TÁN (濕笑散) Gồm Bồ Hoàng, Ngũ Linh Chi – hiện chưa tìm được hình ảnh.
Đào Hồng Tứ vật thang -> Hoạt huyết dưỡng huyết hóa ứ.
Tứ nghịch tán -> Hành khí tán kết.
Kiết cánh, chỉ xác -> Thăng dáng khí cơ, khoan hung trừ mãn.
Ngưu tất -> Thông lợi huyết mạch, thanh hóa uất nhiệt.
Bồ Hoàng Ngũ Linh Chi -> Tăng cường tác dụng thông lợi huyết mạch, hoạt huyết tán kết.
IV. PHÒNG BỆNH
Nguyên nhân làm tăng năng lượng ăn vào và giảm năng lượng tiêu hao gây ra thừa cân béo phì xuất phát từ nhiều yếu tố, nhiều mức độ khác nhau trong một môi trường sống tổng thể của con người. Vì vậy, muốn phòng ngừa thừa cân béo phì cần phải tiến hành đồng bộ nhiều hoạt động trong toàn xã hội. (Bảng…)
| Các lĩnh vực tác động | Ví dụ các chiến lược thành công |
| Luật và các quy định | – Nâng cao việc quy định về nhãn mác thực phẩm.
– Hạn chế các quảng cáo thực phẩm đối với trẻ em. |
| Biện pháp về kinh tế | – Khuyến khích việc sản xuất các thực phẩm nghèo năng lượng, đặc biệt các sản phẩm rau và quả.
– Giảm Thuế thu nhập cho những người đi làm bằng phương tiện công cộng. – Giảm thế cho các công ty có thời gian dành cho công nhân tập thể dục thể thao và cải thiện điều kiện làm việc. |
| Tài liệu và phương tiện giảng dạy | – Cung cấp đủ dụng cụ thể dục thể thao cũng như nơi tập, phương tiện tập luyện, nơi thay quần áo và nơi tắm.
– Có thời gian thỏa đáng cho các môn học có liên quan đến hoạt động thể lực. – Có sự tập huấn cho học sinh về thực hành lựa chọn thực phẩm để có chế độ ăn hợp lý. |
| Thực phẩm và sự phục vụ ăn uống | Xây dựng những lời khuyên và sự hướng dẫn về thành phần dinh dưỡng cho các cơ sở chế biến và phục vụ ăn uống (bữa ăn cho học sinh và những nơi phục vụ các suất ăn chế biến sẵn). |
| Động viên và giáo dục | – Giáo dục từ tuổi ấu thơ các kiến thức về thực phẩm và dinh dưỡng, chế biến thức ăn, chế độ ăn hợp lý và lối sống năng động qua các tài liệu giảng dạy cho học sinh giáo viên cán bộ y tế, những nhà nông nghiệp.
– Hạn chế cho trẻ em xem tivi. – Sử dụng các thông tin đại chúng để khuyến khích sự thay đổi thực hành hướng tới các thói quen dinh dưỡng tốt. |
| Tạo nguồn thực phẩm | Khuyến khích các gia đình trồng rau, và các loại thực phẩm giàu vi chất dinh dưỡng khác. |
| Xây dựng thành phố và các chính sách về giao thông | – Cấu trúc xây dựng thành phố có khu vực cho người đi bộ và đường cho người đi xe đạp an toàn và tiện lợi.
– Cải thiện phương tiện giao thông công cộng. – Cải thiện hệ thống đèn chiếu sáng trên đường phố để tạo điều kiện cho người đi bộ đi xe đạp. – Xây dựng các biện pháp về an toàn giao thông để tạo điều kiện cho trẻ em có thể chơi và đi bộ trên đường phố. – Khuyến khích xây dựng cầu thang bộ thay cho thang máy. |
| Thành phần | Đề nghị |
| Mục tiêu giảm cân thỏa đáng | Khởi đầu đạt được giảm 2,5-5 kg; tốc độ 0.5-2.0 kg/ tháng. |
| Tiết chế | Tính được tổng năng lượng mỗi ngày, phần trăm năng lượng của các thành phần mỡ, proten và cacbohydrate. |
| Hoạt động thực thể | Bắt đầu tùy thuộc chức năng hô hấp tuần hoàn của trẻ, với mục tiêu cuối cùng là hoạt động 20-30 phút/ ngày (không tính các hoạt động chân tay ở trường học). |
| Điều chỉnh hành vi | Tự kiểm soát, giáo dục dinh dưỡng, khuyển khích, điều chỉnh các thói quen ăn uống, hoạt động thực thể, thay đổi thái độ, củng cố và phần thưởng. |
| Sự tham gia của gia đình | Đánh giá sinh hoạt gia đình, kiểu xem tivi, tham vấn dinh dưỡng cho ba mẹ bệnh nhi. |
V. KẾT LUẬN:
Việc kết hợp điều trị giữa YHHĐ hay YHCT đều nhằm một mục đích cao nhất là góp phần trong điều trị và phục hồi sức khỏe cho người bệnh. Kết hợp hai phương pháp điều trị này sẽ nâng cao được hiệu quả điều trị, đồng thời trong các phương pháp điều trị không dùng thuốc của YHCT nếu biết kết hợp một cách khoa học, hợp lý cũng sẽ nâng cao được hiệu quả điều trị.
Kết quả trên là một quá trình học tập trao đổi chuyên môn và việc vận dụng kết hợp giữa hai nền y học hiện đại với y học cổ truyền trong điều trị. Từ đó góp phần phát triển nền y học Việt Nam cũng như nền y học thế giới.
Liên hệ ngay với chúng tôi nếu bạn cần tư vấn!
ĐT: 0936 693 764
Đ/C: 07 Nguyễn Thị Minh Khai, Phường Bến Nghé, Quận 1, Tp. Hồ Chí Minh.
Giờ Mở Cửa: 9h-21h | Thứ 2 – Thứ 7.
Email: dieppkct@gmail.com.
Nguồn ảnh tham khảo: Chinese Medical University, Traditional World-Medicine, Vinmec.
