Viêm xương khớp gối (OA), còn được gọi là bệnh thoái hóa khớp, thường là kết quả của tình trạng hao mòn và mất dần sụn khớp. Bệnh này phổ biến nhất ở người cao tuổi. Viêm xương khớp gối có thể được chia thành hai loại, nguyên phát và thứ phát. Viêm xương khớp nguyên phát là tình trạng thoái hóa khớp mà không có lý do cơ bản rõ ràng. Viêm xương khớp thứ phát là hậu quả của sự tập trung lực bất thường trên khớp như với các nguyên nhân sau chấn thương hoặc sụn khớp bất thường, chẳng hạn như viêm khớp dạng thấp (RA).
Viêm xương khớp thường là một căn bệnh tiến triển có thể dẫn đến tàn tật. Cường độ của các triệu chứng lâm sàng có thể khác nhau ở mỗi cá nhân. Tuy nhiên, chúng thường trở nên nghiêm trọng hơn, thường xuyên hơn và suy nhược hơn theo thời gian. Tốc độ tiến triển cũng khác nhau ở mỗi cá nhân. Các triệu chứng lâm sàng phổ biến bao gồm đau đầu gối khởi phát từ từ và nặng hơn khi vận động, cứng và sưng đầu gối, đau sau khi ngồi hoặc nghỉ ngơi trong thời gian dài và đau nặng hơn theo thời gian. Điều trị viêm xương khớp đầu gối bắt đầu bằng các phương pháp bảo tồn và tiến triển đến các lựa chọn điều trị phẫu thuật khi điều trị bảo tồn không hiệu quả. Mặc dù thuốc có thể giúp làm chậm quá trình tiến triển của RA và các tình trạng viêm khác, nhưng hiện tại không có tác nhân điều trị bệnh nào được chứng minh là có thể điều trị viêm xương khớp đầu gối.
- Các triệu chứng
– Các dấu hiệu thường gặp bao gồm đau khớp, cứng khớp và giảm vận động: Là biểu hiện sớm và phổ biến của thoái hóa khớp. Người bệnh đau chủ yếu khi vận động, giảm khi nghỉ ngơi. Khi thoái hóa khớp tiến triển hoặc ở giai đoạn nặng người bệnh có biểu hiện đau về đêm và sáng hoặc đau liên tục. Đôi khi người bệnh có thể thấy khớp sưng khi có tràn dịch trong khớp nhưng không nóng đỏ.
– Cứng khớp thường xuất hiện vào buổi sáng sớm khi người bệnh mới ngủ dậy hoặc sau khi nghỉ ngơi kéo dài. Thời gian cứng khớp càng dài thể hiện tình trạng thoái hóa khớp càng nặng. Tuy nhiên, khi cứng khớp kéo dài cần tìm các nguyên nhân khác có thể gây thoái hóa khớp thứ phát.
– Giảm vận động do đau, cứng khớp, hẹp khe khớp, tổn thương dây chằng và các thành phần khác của khớp, gây ảnh hưởng đến khả năng lao động, chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Người bệnh có thể thấy khớp không co duỗi được hết tầm như trước. Khi đi lại vận động thấy đau nhiều nên ít vận động hơn.
– Lục cục khớp: Người bệnh có thể thấy tiếng khớp kêu lục cục khi đi lại. Tiếng lục cục có thể phát hiện trước cả khi người bệnh xuất hiện triệu chứng đau.
