TIỆN BÍ
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay trong thực hành lâm sàng sự phối kết hợp y học cổ truyền và y học hiện đại ngày càng được lựa chọn nhiều hơn. Y học hiện đại và Y học cổ truyền đều có những ưu nhược điểm, hai nền y học có thể bổ khuyết cho nhau, làm cho nền y học của loài người ngày càng ưu việt hơn.
Ở những nước phát triển trên thế giới, nền Y học cổ truyền ở những nước này đang được quan tâm, đầu tư, nghiên cứu và phát triển như ở Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản… Bên cạnh đó sử dụng các phương pháp khôngdùng thuốc châm cứu, xoa bóp, bấm huyệt, dưỡng sinh…đều đạt được hiệu quả nhất định đối với các bệnh mạn tính, và các bệnh khó thì cần kết hợp giữa Y học cổ truyền và Y học hiện đại.
Táo bón là một triệu chứng chứ không phải là một căn bệnh và là một trong những vấn đề sức khỏe được bệnh nhân than phiền nhiều nhất. Táo bón là một rối loạn nhu động ruột thường là mãn tính và ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống, đồng thời là sự tiêu tốn một khoản chi phí không nhỏ cho việc khám và chữa bệnh. Chính vì những lí do trên nên tôi chọn chuyên đề: “Tiện bí”.
I. TỔNG QUAN
1. Theo Y học cổ truyền
1.1 Đại cương
Là triệu chứng thường gặp trên lâm sàng và xuất hiện kèm trong các bệnh cấp – mạn tính khác. Bài này thảo luận về triệu chứng táo bón là chính.
Trong “Nội kinh” có đề cập tới chứng có liên quan tới tỳ vị thụ hàn và trường nhiệt. Như “Tố vấn – quyết luận” nói: “Thái âm chi quyết, tắc phủ mãn trướng, hậu bà lợi”, nghĩa là thái âm tỳ hàn sẽ có biểu hiện bụng trướng tức, đại tiện không thông. Hoặc “Tố vấn – Cử thống luận” nói: “Nhiệt khí lưu dũ tiểu trường, trường trung thống đan nhiệt tiêu khát, tắc kiện can bất đắc xuất, cố thống nhi bế bất thông hề”, nghĩa là khi nhiệt tà lưu ở tiểu trường sẽ gây đau và nhiệt sẽ thiêu đốt dẫn đến phân khô cứng không đi tiêu được mà gây ra đau và táo bón.
Trọng Cảnh có cách nhìn tương đối toàn diện về chứng táo bón, ông nêu ra cơ chế phát bệnh là do hàn, nhiệt, hư, thực đồng thời cũng đã lập ra phép tả hạ với Thừa khí thang, phép ôn lý tả hạ với Đại hoàng phụ tử thang, phép dưỡng âm nhuận hạ với Ma tử nhân hoàn, phép lý khí thông hạ với Hậu phác tam vật thang và chủ trương dùng mật ong luyện để giải quyết táo bón và đây đã trở thành nguyên tắc cơ bản trong điều trị chứng táo bón của hậu bối. Ngày nay trên lâm sàng cũng vẫn thường dùng một số thang thuốc trên.
“Y học tâm ngộ – Đại tiện bất thông” đã chia táo bón thành: Thực bế, hư bế, nhiệt bế, lãnh bế bốn loại, đồng thời cũng liệt kê triệu chứng, trị pháp, phương dược từng loại, có giá trị tham khảo lớn.
Trên lâm sàng có nhiều bệnh xuất hiện triệu chứng táo bón như: Vị quản thống, phúc thống, cổ trướng, hoàng đản,…
1.2. Nguyên nhân bệnh
1.2.1. Trường vị tích nhiệt
Thường ngày có biểu hiện dương thịnh hoặc sau một nhiệt bệnh, tà nhiệt còn lưu lại, hoặc phế nhiệt phế táo ảnh hưởng đại trường, hoặc do ăn nhiều đồ ăn dầu mỡ, rượu chè, hoặc ăn đồ nóng cay hoặc uống những thuốc có tính chất nhiệt đều có thể dẫn đến trường vị tích nhiệt, hao tổn tân dịch, phân sẽ trở nên khô cứng, khó tống ra ngoài. Loại này gọi là “Nhiệt bí”, táo bón do nhiệt là do hỏa tà còn dư lại gây ra tân dịch khô cạn.
1.2.2. Khí cơ uất trệ
Ưu sầu tư lự làm tỳ thương khí kết tụ, hoặc uất ức phẫn nộ làm can khí uất trệ, hoặc do tư thế ngồi lâu nhiều dẫn đến khí cơ bất lợi, đều có thể dẫn đến phủ khí uất trệ, thông giáng không bình thường, mất chức năng truyền đạo, khiến cho chất cặn bã ứ trệ ở trong không đi xuống được, gây ra mót đại tiện mà không đi được, hoặc đi được mà không thông, hoặc táo kết mà gây ra khí bí, khí bí là do khí ứ trệ bên trong nên phân không di chuyển được để tống ra ngoài.
1.2.3. Âm hàn tích trệ
Thường thích ăn đồ ăn sống lạnh, hàn khí sẽ ngưng trệ ở vị trường, hoặc do ngoại cảm làm hàn tà tích tụ tại vị trường, hoặc do uống quá nhiều thuốc hàn lương khiến âm hàn kết tụ ở trong, tất cả đều có thể dẫn đến âm hàn nội thịnh, ngưng kết vị trường, làm mất chức năng truyền đạo, cặn bã không di chuyển được mà thành “Lãnh bí”.
1.2.4. Khí hư dương hư
Do ăn uống sinh hoạt làm việc mệt nhọc ảnh hưởng tỳ vị, hoặc do thường nhật cơ thể suy nhược, dương khí bất túc, hoặc người già cơ thể suy, khí hư dương hư, hoặc bệnh lâu ngày, hoặc hậu sản chính khí chưa hồi phục, hoặc ăn nhiều đồ sống lạnh tổn thương dương khí, hoặc dùng thuốc khổ hàn công phạt, thương tổn dương, hao mòn khí, tất cả đều có thể gây ra khí hư dương hư. Khí hư thì chức năng truyền đạo đại tràng giảm, dương hư thì trường mất đi sự ôn dưỡng và sẽ sinh ra âm hàn nội kết dẫn đến khó đi tiêu.
1.2.5. Âm khuy huyết thiểu
Thường ngày âm hư, tân dịch kém, huyết thiểu hoặc mất máu, mất nhiều mồ hôi gây tổn thương tân dịch, vong huyết, hoặc tuổi cao âm huyệt lưỡng hư, hoặc do dùng đại trường không được vinh nhuận, âm khuy tắc đại trường khô sáp và dẫn đến đại tiện táo bón, khó đi tiêu.
1.3. Cơ chế bệnh
Nguyên nhân táo bón có nhiều như: Ngoại cảm hàn nhiệt chi tà, nội thương ẩm thực tình chí, âm dương bất túc,… đều gây ra táo bón, mà các nguyên nhân này thường có liên quan với nhau làm phức tạp thêm nguyên nhân phát bệnh.
Ví dụ ở những người có biểu hiện trường táo nhiệt tân dịch khô kiệt dễ bị nhiệt tà xâm nhiễm hoặc ở người khí hư, dương hư khó chịu đựng được sự thương tổn của hàn lương ẩm thực hoặc do khí cơ uất trệ, dễ hóa táo mà thương tổn tân dịch dẫn đến ngại sự dẫn lưu của đại tràng,…
Nói tóm lại nguyên nhân trực tiếp của táo bón không ngoài nhiệt, thực, lãnh, suy, 4 loại. Vị trường tích nhiệt phát bệnh là nhiệt bí, khí cơ uất trệ phát bệnh là thực bí, âm hàn tích trệ là lãnh bí, khí huyết âm dương bất túc là hư bí, 4 loại này thường có biểu hiện tương liên.
Ví dụ tà nhiệt uẩn tích và khí cơ uất trệ thường là cùng tồn tại, âm hàn tích trệ và dương khí hư suy cũng cùng biểu hiện song song, khí cơ uất trệ lâu ngày sẽ hóa nhiệt mà dẫn đến nhiệt kết, nhiệt kết lâu ngày sẽ hao tổn tân dịch dẫn đến âm hư,…
Tuy vậy táo bón lại lấy hư thực làm cương lĩnh điều trị. Nhiệt bí, lãnh bí, khí bí thuộc thực, âm dương bất túc thuộc hư.
Bệnh cơ của thực chứng là tà trệ vị trường gây ra tắc trở không thông là chính. Hư chứng bệnh cơ lại ở trường vị thất ôn nhuận, vô lực truyền dẫn. Giữa hư và thực cũng thường chuyên hóa cho nhau.
Táo bón bệnh vị tại đại trường, do chức năng truyền dẫn bất thường nhưng thường có quan hệ đến suy giảm chức năng các tạng Tỳ Vị Phế Thận.
+ Vị và trường nối liền nhau, khi vị nhiệt tích thịnh sẽ truyền xuống đại tràng mà hun đốt tân dịch gây đại trường nhiệt thịnh dẫn đến phân khô cứng kết tụ ở trong.
+ Tỳ chủ vận hóa nếu chức năng này giảm do tỳ hư thì cặn bã sẽ ứ trệ ở trong gây cản trở chức năng truyền đạo của đại tràng.
+ Phế và đại tràng tương quan biểu lý, khi phế nhiệt, phế táo có thể sẽ dịch chuyển táo, nhiệt xuống đại tràng gây ra trường táo tân khô.
+ Can chủ khí cơ, nếu can uất khí trệ thì phủ khí sẽ không thông, khí trệ bất hành.
+ Thận chủ nhị tiện, nếu thận âm bất túc thì tràng sẽ thất nhu dưỡng gây táo bón. Nếu thận dương bất túc thì đại tràng mất đi ôn húc dẫn đến truyền đạo vô lực, đại tiện không thông.
Qua đó có thể thấy táo bón tuy thuộc chức năng đại tràng truyền đạo thất chức nhưng lại có quan hệ mật thiết với các tạng phủ khác.
2. Theo Y học hiện đại
2.1 Đại cương
– Định nghĩa: Táo bón là một dạng rối loạn đường tiêu hóa, dẫn đến tình trạng đi phân không đều, phân khó đi kèm với cảm giác đau và cứng.
– Tiêu chuẩn Rome III yêu cầu một bệnh nhân có ít nhất 2 trong các triệu chứng sau đây của táo bón trong 3 tháng trước để chẩn đoán:
+ Ít hơn 3 lần đại tiện mỗi tuần.
+ Căng thẳng.
+ Phân cứng / sần.
+ Cảm giác của tắc nghẽn hậu môn trực tràng.
+ Cảm giác đi tiêu không “trọn vẹn”.
+ Cần vận động mạnh hơn cần bình thường trong khi đại tiện.
– Dịch tễ: Táo bón phổ biến nhất trong các bệnh lý về đường tiêu hóa trên thế giới với tỷ lệ 17% dân số toàn cầu, trong đó, chỉ 12% số người tự xác định được bệnh. Táo bón xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng phổ biến hơn ở những người trên 65 tuổi với tỷ lệ 30-40%. Phụ nữ có tỷ lệ mắc táo bón cao gấp 3 lần nam giới. Táo bón cũng thường xảy ra ở trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ và phụ nữ mang thai.
Hình 1: Phân loại phân theo Bristol
2.2 Nguyên nhân bệnh
– Nguyên nhân gây táo bón nguyên phát:
+ Táo bón có nhu động bình thường: Rối loạn cơ chế tống phân, xuất phát từ cơ thắt, cơ vòng hậu môn có vấn đề. Loại táo bón này khi khám thực thể rất khó phát hiện.
+ Táo bón có nhu động chậm: Do nhu động ruột hoạt động kém, thường gặp hơn ở phụ nữ với các triệu chứng như chướng bụng, ít có nhu cầu đại tiện.
+ Táo bón do rối loạn chức năng sàn chậu: Tổn thương ở sàn chậu hay rối loạn cơ vòng. Đặc trưng của táo bón do nguyên nhân này là rặn nhiều, đại tiện không hết phân, phải cần hỗ trợ mới tống phân ra ngoài hết được.
– Nguyên nhân gây táo bón thứ phát:
+ Chế độ ăn uống, sinh hoạt: Chế độ ăn ít chất xơ, dư thừa chất béo có nguồn gốc từ động vật, ăn nhiều đường, cà phê, trà, rượu, uống không đủ nước; lười vận động; thường xuyên trì hoãn việc đại tiện. Ở trẻ em, táo bón còn có thể do việc uống sữa bột (các loại sữa công thức trong thành phần ít chất xơ và quá nhiều đạm, đường).
+ Mắc bệnh lý thực thể: nứt hậu môn, tắc nghẽn ống tiêu hóa do khối u, trĩ huyết khối, to trực tràng vô căn sẽ dễ bị táo bón.
+ Mắc bệnh lý toàn thân: Mắc bệnh về thần kinh (đột quỵ, Hirschsprung, Parkinson, chấn thương đầu, tủy sống); vấn đề tâm lý (trầm cảm, rối loạn lo âu); rối loạn nội tiết (chuyển hóa tăng canxi máu, hạ kali máu, tiểu đường); bệnh tuyến giáp (cường giáp, suy giáp); bệnh mô liên kết (xơ cứng bì, lupus); nhiễm độc chì cũng gây táo bón.
+ Mang thai: Sự thay đổi nội tiết tố trong thai kỳ cộng với áp lực từ tử cung gây chèn ép lên ruột, hoặc chế độ ăn thay đổi quá nhiều trong thai kỳ (uống viên bổ sung nhiều sắt, canxi, ăn nhiều thực phẩm giàu đạm)… ảnh hưởng đến nhu động ruột dẫn đến táo bón.
+ Dùng một số loại thuốc: Thuốc chống trầm cảm; thuốc kháng cholinergic; thuốc kháng axit; thuốc lợi tiểu; thuốc chống viêm không steroid (ibuprofen, diclofenac); thuốc chứa codein và morphin; thuốc chống co giật…
Hình 2: Táo bón do bệnh lý thực thể
II. LÂM SÀNG
1. Theo Y học cổ truyền
1.1 Chẩn đoán
– Biểu hiện số lần đi tiêu giảm, thời gian giữa mỗi lần kéo dài, hoặc phân khô cứng khó đi hoặc khó rặn (không sức) hoặc tiêu không thoải mái.
– Thường kèm theo đau bụng, trướng bụng, ăn uống kém, chóng mặt, miệng hôi, nứt hậu môn, trĩ, tiêu máu, ra mồ hôi nhiều, khí đoản, chóng mặt hồi hộp,…
– Phát bệnh có quan hệ đến ngoại cảm hàn nhiệt, ẩm thực, tình chí, tạng phủ thất điều, ngồi nằm nhiều không hoạt động hoặc người già cơ thể suy nhược,… Khởi bệnh chậm, thường có biểu hiện là bệnh mạn tính.
– Loại trừ những triệu chứng táo bón của những bệnh nội khoa khác. Bệnh thường gặp ở người già, phụ nữ.
1.2 Chẩn đoán phân biệt
Tích tụ:
Giống như táo bón, có thể có hiện tượng sờ thấy u cục ở bụng. Nhưng ở người táo bón thường thấy bụng dưới bên trái, còn tích tụ thì có thể gặp ở mọi chỗ vùng bụng. Táo bón thường sờ thấy quai ruột, tích tụ thì hình dạng bất định, táo bón u cục thường là phân khô kết lại, khi xổ được thì hết, còn tích tụ thì không có quan hệ tới đi cầu.
2. Theo Y học hiện đại
Các triệu chứng táo bón ở mỗi đối tượng, độ tuổi có thể khác nhau nhưng thường có các đặc điểm chung là đại tiện khó, phải rặn nhiều, phân cứng, tỏn mỏn, chướng bụng, sờ thấy bụng cứng. Cụ thể :
+ Dấu hiệu táo bón ở người lớn: Quá 3 ngày không thể đại tiện, chướng bụng, rặn nhưng không đại tiện được, hoặc rất khó để tống phân ra ngoài, phân cứng, phân có thể lẫn máu do xuất huyết hậu môn.
+ Dấu hiệu táo bón ở trẻ em: Không thể đi đại tiện 3 lần/tuần, chướng bụng, đại tiện khó, mỗi khi đại tiện trẻ phải rặn đỏ mặt, phân cứng, có thể chảy máu nhẹ ở hậu môn do việc rặn quá mức. Hoặc ở trẻ sơ sinh và trẻ dưới 1 tuổi 5-7 ngày không đi đại tiện; phân cứng, có thể kèm máu và chất nhầy; trẻ quấy khóc, lười ăn/bú, ngủ không ngon giấc do chướng bụng, đau bụng.
– Tiêu chuẩn Rome III yêu cầu một bệnh nhân có ít nhất 2 trong các triệu chứng sau đây của táo bón trong 3 tháng trước để chẩn đoán:
+ Ít hơn 3 lần đại tiện mỗi tuần.
+ Căng thẳng.
+ Phân cứng / sần.
+ Cảm giác của tắc nghẽn hậu môn trực tràng.
+ Cảm giác đi tiêu không “trọn vẹn”.
+ Cần vận động mạnh hơn cần bình thường trong khi đại tiện.
– Một số dấu hiệu nhất định tăng nghi ngờ về nguyên nhân nghiêm trọng hơn của táo bón mạn tính:
+ Bụng trướng, gõ vang như trống.
+ Nôn.
+ Máu trong phân.
+ Sụt cân.
+ Táo bón mức độ nặng khi mới khởi phát/trầm trọng hơn trên bệnh nhân cao tuổi.
III. CẬN LÂM SÀNG
Nếu việc chẩn đoán lâm sàng không giúp phát hiện táo bón, bác sĩ có thể chỉ định người bệnh làm các xét nghiệm bao gồm:
- Xét nghiệm máu và phân: Xét nghiệm máu để tìm kiếm các dấu hiệu của bệnh suy giáp, thiếu máu và tiểu đường. Xét nghiệm phân để kiểm tra các dấu hiệu nhiễm trùng, viêm và ung thư.
- Chẩn đoán hình ảnh (CT), (MRI): Việc kiểm tra hàng loạt hình ảnh của đường tiêu hóa dưới có thể giúp bác sĩ xác định các vấn đề khác gây ra táo bón.

Hình 3: Hình ảnh CT Scan khung đại tràng
- Nội soi đại tràng: Nội soi đại tràng giúp phát hiện các vấn đề ở ruột kết, chẳng hạn như khối u.

Hình 4: Hình ảnh nội soi đại tràng
- Đo áp lực hậu môn trực tràng: Người bệnh được uống một lượng nhỏ chất phóng xạ, ở dạng thuốc viên để theo dõi thời gian và cách chất này di chuyển qua ruột.
- Các xét nghiệm chức năng ruột khác: Bác sĩ có thể yêu cầu người bệnh làm thêm các xét nghiệm kiểm tra hậu môn và trực tràng khác để đánh giá việc giữ và thải phân tốt như thế nào. Những xét nghiệm này bao gồm chụp X-quang (chụp đại tiện).
IV. ĐIỀU TRỊ
1. Theo Y học cổ truyền
1.1 Nguyên tắc điều trị:
Táo bón nói chung là do chức năng truyền đạo của đại tràng giảm. Thực bí là do tà khí ứ trệ vị trường gây ách tắc không thông. Hư bí là do đại trường không được ôn nhuận đủ và không đủ sức thúc đẩy phân đi xuống. Do đó không thể chỉ đơn thuần thông hạ là có thể điều trị mà phải phân rõ hư thực để biện chứng luận trị.
Thực thì dùng khứ tà là chính, tả nhiệt, ôn hàn, thông đạo là phương pháp trị bản đồng thời thêm chút thuốc thuận khí đạo trệ, tiêu bản kiêm trị, tà khứ tiện thông.
Hư thì trước tiên phải dưỡng chính khí, tư âm, dưỡng huyết, ích khí, ôn dương là phương pháp trị bản, nhưng cũng phải dùng thêm chút thuốc cam ôn nhuận trường để tiêu bản kiêm trị, chính thịnh tiện thông.
1.2 Các thể lâm sàng
* Thực bí:
1.2.1 Trường vị tích nhiệt
– Triệu chứng: Đại tiện khô kết, đau trướng bụng, mặt đỏ, sốt, miệng khô hôi, bứt rút không yên, tiêu tiện ngăn đỏ, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng khô, mạch hoạt sắc.
– Trị pháp: Tả nhiệt đạo trệ, nhuận trường thông tiện.
– Phương dược: Ma tử nhân hoàn gia giảm.
+ Đại hoàng, Chỉ thực, Hậu phác – thông phủ tả nhiệt;
+ Hỏa ma nhân, Hạnh nhân, Bạch mật ong – nhuận trường thông tiện;
+ Thược dược – dưỡng âm hòa dinh.

Hình 5: Vị thuốc ma tử nhân
1.2.2 Khí cơ uất trệ
– Triệu chứng: Đại tiện táo kết hoặc không táo lắm, muốn đi tiêu nhưng không đi được hoặc tiêu không thông suốt, sôi ruột, trung tiện nhiều, đau trướng bụng, đầy tức sườn ngực, thở dài liên tục, ăn uống ít, chán ăn, rêu lưỡi mỏng dơ, mạch huyền.
– Trị pháp: Thuận khí đạo trệ.
– Phương dược: Lục ma thang gia giảm.
+ Mộc hương – điều hòa khí
+ Ô dược – thuận khí,
+ Trầm hương – giáng khí;
+ Đại hoàng, Binh lang, Chỉ thực – phá khí kết hành trệ.
1.2.3 Âm hàn tích trệ
– Triệu chứng: Đại tiện khó khăn, bụng đau quằn quại, bụng trướng cự án, đau lan hai sườn, tay chân lạnh toát, nấc cục, nôn ói, rêu lưỡi trắng dơ, mạch huyền khẩn.
– Trị pháp: Ôn lý tán hàn, thông tiện chỉ thống.
– Phương dược: Đại hoàng phụ tử thang gia giảm.
+ Phụ tử – ôn lý tán hàn;
+ Đại hoàng – trừ tích trệ;
+ Tế tân – tán hàn chỉ thống.
Hình 6: Bài thuốc đại hoàng phụ tử thang
+ Có thể thêm: Chỉ thực, Hậu phác, Mộc hương – để trợ sức cho tả hạ.
+ Thêm Can khương, Tiểu hồi hương – để tăng tác dụng tán hàn.
+ Nếu đau tức thượng vị (tâm giảo thống), cấm khẩu bạo quyệt (lạnh nhiều, không nói được, co giật) là thuộc đại hàn tích tụ có thể dùng Tam vật bị cấp hoàn để công trục hàn tích.
* Hư bí:
1.2.4 Khí hư
– Triệu chứng: Phân không khô táo, tuy có cảm giác muốn đi cầu nhưng khi đi thì cố rặn nhiều cũng không có phân hoặc có ít kèm theo đổ mồ hôi mệt mỏi, sau khi đi tiêu mệt mỏi nhiều, mặt trắng xanh, mệt mỏi, lười nói chuyện, lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch nhược.
– Trị pháp: Bổ khí nhuận trường.
– Phương dược: Hoàng kỳ thang gia giảm.
+ Hoàng kỳ – bổ tỳ phế chi khí;
+ Hỏa ma nhân, Mật ong trắng – nhuận trường thông tiện;
+ Trần bì – lý khí.
1.2.5 Huyết hư
– Triệu chứng: Đại tiện khô táo, sắc mặt không tươi, tâm quý, khí đoản, mất ngủ, mơ nhiều, hay quên, miệng môi tái nhợt, lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch tế.
– Trị pháp: Dưỡng huyết nhuận táo.
– Phương dược: Nhuận trường hoàn gia giảm.
+ Đương quy, Sinh địa – tư âm dưỡng huyết;
+ Hỏa ma nhân, Đào nhân – nhuận trường thông tiện;
+ Chỉ xác – dẫn khí hạ hành.
1.2.6 Âm hư
– Triệu chứng: Đại tiện táo bón, phân như phân dê, thể trạng ốm gầy, chóng mặt, ù tai, hai gò má ửng đỏ, tâm phiên ít ngủ, triều nhiệt đạo hãn, đau mỏi thắt lưng gối, lưỡi đỏ, ít rêu, mạch tế sác.
– Trị pháp: Tư âm thông tiện.
– Phương dược: Tăng dịch thang gia giảm.
+ Huyền sâm, Mạch môn đông, Sinh địa – tư âm sinh tân.

Hình 7: Bài thuốc Tăng dịch thang
Gia giảm:
+ Có thể thêm: Thược dược, Ngọc trúc, Thạch hộc – trợ tác dụng dưỡng âm.
+ Thêm: Hỏa ma nhân, Bá tử nhân, Qua lâu nhân – tăng tác dụng nhuận trường.
+ Nếu vị âm bất túc với miệng khô khát nước dùng Ích vị thang.
+ Nếu thận âm bất túc đau mỏi thắt lưng gối dùng Lục vị địa hoàng hoàn.
+ Nếu âm hư táo kết gây nhiệt thịnh tổn thương tân dịch dùng Tăng dịch thừa khí thang. Ý nghĩa là tăng thủy hành châu (tăng nước để thuyền đi dễ).
1.2.7 Dương hư
– Triệu chứng: Đại tiện khô hoặc không nhưng khó đi, tiểu tiện trong dài, sắc mặt nhợt nhạt, tứ chi không ấm, bụng đau lạnh, gặp nóng đỡ đau, thắt lưng gối lạnh đau, lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch trầm trì.
– Trị pháp: Ôn dương thông tiện.
– Phương dược: Tế xuyên tiễn gia giảm.
+Nhục thung dung, Ngưu tất – ôn bổ thận dương, nhuận trường thông tiện;
+ Đương quy – dưỡng huyết thông tiện;
+Thăng ma, Trạch tả – thăng thanh giáng trọc;
+ Chỉ xác – hạ khí.
Gia giảm:
+ Nếu ở người già hư lãnh táo bón có thể dùng Bán lưu hoàn.
+ Nếu tỳ dương bất túc, âm hàn lãnh tích tụ dùng Ôn tỳ thang.
+ Nếu thận dương bất túc dùng Thận khí hoàn.
Ngoài ra, có thể dựa vào biện chứng mà dùng Lý trung hoàn, Tứ thần hoàn, Hữu quy hoàn,…
2. Theo Y học hiện đại
2.1 Nguyên tắc điều trị:
– Ngưng sử dụng các thuốc gây triệu chứng (một số có thể vẫn cần thiết).
– Tăng chất xơ trong khẩu phần ăn.
– Có thể điều trị thử với liệu trình thuốc nhuận tràng thẩm thấu trong thời gian ngắn.
2.2 Điều trị cụ thể:
a. Chế độ ăn – lối sống:
Chế độ ăn nên có đủ chất xơ (thường từ 15 đến 20 g/ngày) để đảm bảo đủ lượng phân. Hoa quả và rau củ là những nhóm thực phẩm được khuyến nghị, cũng như ngũ cốc nguyên vỏ.
Thiết lập thói quen đi tiêu: Bệnh nhân cần phải cố gắng đại tiện vào cùng một thời điểm mỗi ngày, lý tưởng là sau ăn sáng từ 15 đến 45 phút, bởi vì ăn uống sẽ kích thích nhu động của đại tràng. Những nỗ lực ban đầu với nhu động ruột chậm thường xuyên có thể được hỗ trợ bằng viên đạn đặt hậu môn chứa glycerin.
Bệnh nhân bị rối loạn ám ảnh cưỡng chế cần được điều trị rối loạn đó. Ngoài ra, các bác sĩ phải giải thích rằng đại tiện hàng ngày là không cần thiết, ruột phải có thời gian để hồi phục và thường xuyên sử dụng thuốc nhuận tràng hoặc thụt (> một lần, 3 ngày một lần) sẽ làm mất đi khả năng đại tiện đó.
b. Thuốc nhuận tràng:
– Thuốc làm tăng khối lượng phân (ví dụ: psyllium, canxi polycarbophil, methylcellulose) tác dụng chậm và nhẹ nhàng là những loại thuốc an toàn nhất để thúc đẩy việc bài xuất phân. Sử dụng hợp lý bao gồm việc tăng dần liều – lý tưởng là dùng 3 hoặc 4 lần/ngày với vừa đủ nước (ví dụ: bổ sung 500 mL nước/ngày) để ngăn ngừa nút phân.
– Các thuốc thẩm thấu có chứa đa ion hấp thu kém (ví dụ: magiê, photphat, sulfat), các polyme (ví dụ: polyethylene glycol), hoặc carbohydrate (ví dụ: lactulose, sorbitol) vẫn còn trong ruột, làm tăng áp suất thẩm thấu trong lòng ruột và kéo nước vào ruột. Tăng thể tích sẽ kích thích nhu động. Các thuốc này thường có tác dụng trong vòng 3 giờ.
– Thuốc xổ bài tiết hoặc thuốc xổ kích thích (ví dụ: phenolphthalein, bisacodyl, anthraquinones, dầu thầu dầu, anthraquinones) có tác dụng bằng cách kích thích niêm mạc ruột hoặc kích thích trực tiếp đám rối thần kinh dưới niêm mạc và đám rối thần kinh cơ ruột.
– Dung dịch thụt.
– Thuốc làm mềm phân (ví dụ: docusate, dầu khoáng).
– Thuốc đối kháng thụ thể mu-opioid có tác dụng ngoại biên (PAMORAs; ví dụ: methylnaltrexone, naloxegol, naldemedine) có thể được sử dụng để điều trị táo bón do thuốc phiện gây ra không đỡ khi dùng các biện pháp khác.
V. CHĂM SÓC – PHÒNG BỆNH
1. Chăm sóc
Đa số người bệnh táo bón có thể tự điều trị tại nhà, song nếu gặp phải các tình trạng sau bạn cần đến bệnh viện ngay để được bác sĩ thăm khám và điều trị như táo bón kèm theo co thắt và đau bụng dữ dội; táo bón kéo dài 2 tuần không khỏi mặc dù đã áp dụng nhiều biện pháp chữa trị khác nhau tại nhà; trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ quấy khóc nhiều, bỏ bú, sụt cân nhanh…
2. Phòng bệnh
Ngoài nguyên nhân mắc các bệnh lý về tiêu hóa, thì táo bón chủ yếu xuất phát từ chế độ ăn uống mất cân bằng dinh dưỡng, ít vận động hoặc căng thẳng, stress quá mức. Theo đó, ngoài việc uống đủ 2 lít nước mỗi ngày, thì người bệnh nên:
+ Duy trì một chế độ ăn giàu chất xơ bao gồm tăng cường rau xanh, trái cây và ngũ cốc nguyên cám.
+ Hạn chế các ăn các thực phẩm không lành mạnh như thực phẩm giàu chất béo có nguồn gốc động vật, đồ ăn công nghiệp, nước ngọt đóng chai, bia, rượu, hút thuốc lá, các loại quả xanh, chát.
+ Nên vận động ít nhất 3 giờ/tuần.
+ Tránh căng thẳng, trầm cảm, stress.
+ Không ngồi bồn cầu quá lâu, không rặn khi đại tiện.
+ Nên tập thói quen đi đại tiện vào một khung giờ hàng ngày.
+ Ngoài ra, đối với trẻ uống sữa bột, việc ngừng hoặc đổi loại sữa trẻ đang uống hiện tại có thể giúp cải thiện tình trạng táo bón.
+ Chủ động đến bệnh viện khám sức khỏe giúp tầm soát và điều trị sớm các bệnh lý là nguyên nhân gây ra táo bón như trĩ, nứt hậu môn, tắc nghẽn ống tiêu hóa do khối u, trĩ huyết khối, to trực tràng vô căn; các bệnh về thần kinh hoặc tuyến giáp…

Hình 8: Bổ sung nước đầy đủ giúp phòng ngừa táo bón.
KẾT LUẬN:
Táo bón là bệnh phổ biến trong số các bệnh lý về đường tiêu hóa nói riêng, cũng như các bệnh lý khác nói chung. Đại đa số người bệnh bị táo bón có nguyên nhân từ chế độ ăn uống, vận động. Do đó, có một chế độ ăn uống, sinh hoạt khoa học bao gồm tăng cường chất xơ, tập thể dục thể thao hàng ngày, tránh ăn uống các thực phẩm không lành mạnh, tránh căng thẳng stress là biện pháp tốt nhất để phòng ngừa bệnh táo bón.
Việc kết hợp điều trị giữa YHHĐ hay YHCT đều nhằm một mục đích cao nhất là góp phần trong điều trị và phục hồi sức khỏe cho người bệnh. Kết hợp hai phương pháp điều trị này sẽ nâng cao được hiệu quả điều trị, đồng thời trong các phương pháp điều trị không dùng thuốc của YHCT nếu biết kết hợp một cách khoa học, hợp lý cũng sẽ nâng cao được hiệu quả điều trị.
Kết quả trên là một quá trình học tập trao đổi chuyên môn và việc vận dụng kết hợp giữa hai nền y học hiện đại với y học cổ truyền trong điều trị. Từ đó góp phần phát triển nền y học Việt Nam cũng như nền y học Thế giới.
Liên hệ ngay với chúng tôi nếu bạn cần tư vấn!
ĐT: 0936693764
Đ/C: 07 Nguyễn Thị Minh Khai, Phường Bến Nghé, Quận 1, Tp. Hồ Chí Minh.
Giờ Mở Cửa: 9h-21h | Thứ 2 – Thứ 7.
Email: dieppkct@gmail.com
Nguồn ảnh tham khảo: AnChanhKieuKhang, Vinmec, ChuabenhNET.
