. Phần Y học hiện đại
Đại cương
-
- Định nghĩa đột quỵ:
Bệnh lý do tổn thương khu trú của hệ thần kinh trung ương (hơn là tổn thương toàn thể). Xảy ra do tổn thương hệ thống tuần hoàn não một cách tự phát (không phải do chấn thương). Biểu hiện bằng các khiếm khuyết thần kinh xảy ra một cách đột ngột. Tồn tại kéo dài ít nhất 24 giờ, hoặc tử vong trước 24 giờ (Theo tổ chức y tế thế giới)
Đột quỵ thực sự là tồn tại triệu chứng ít nhất 24 giờ
- Xuất huyết trong sọ :15-20%
- Xuất huyết não (10-15%),
- Xuất huyết dưới nhện (5%)
- Thiếu máu não cục bộ: 80-85%
Nếu hồi phục trước 24 giờ: Cơn thoáng thiếu máu não: khiếm khuyết thần kinh đột ngột, hồi phục hoàn toàn trong vòng 24 giờ không để lại di chứng (1975)
Định nghĩa mới (2013) (AHA/ASA expert consensus – Stroke 2013;44:2064-2089)
- Đột ngột khiếm khuyết thần kinh
- Hồi phục hoàn toàn trong vòng 60 phút
- Không tổn thương phù hợp trên MRI
- Sơ lược về giải phẫu Các động mạch não:
- Động mạch não trước cấp máu cho các phần trong của thùy trán và thùy đỉnh và thể chai. Động mạch não giữa cấp máu cho phần lớn các mặt bên của thùy trán, thùy đỉnh và thùy thái dương. Các nhánh của động mạch não trước và não giữa (các động mạch bèo vân) cấp máu cho hạch nền và trụ trước bao trong.
- Các động mạch đốt sống và động mạch nền cấp máu cho thân não, tiểu não, vỏ não phía sau và thùy thái dương giữa. Các động mạch não sau tách ra từ động mạch nền để cấp máu cho thùy thái dương giữa (bao gồm hồi hải mã) và thùy chẩm, đồi thị, và các thể vú và thể gối.
- Vòng tuần hoàn trước và vòng tuần hoàn sau thông nhau trong vòng Willis qua động mạch thông sau.

- Sinh lý học
Đột quỵ não hoặc cơn tai biến mạch máu não do mất đột ngột lưu lượng máu tới não hoặc chảy máu bên trong sọ dẫn đến giảm, mất chức năng hoặc chết các tế bào não, là nguyên nhân gây liệt, rối loạn ngôn ngữ, mất cảm giác, trí nhớ, hôn mê và khả năng gây tử vong.
2. Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ
- Nguyên nhân
Có hai nguyên nhân chính dẫn đến đột quỵ não là:
- Đột quỵ não do tắc nghẽn mạch máu não (ischemic stroke)
Đây là loại đột quỵ não phổ biến nhất, chiếm khoảng 87% trong tổng số các trường hợp đột quỵ trên thế giới. Tình trạng đột quỵ do tắc nghẽn mạch máu não xảy ra khi cục máu đông nằm trong mạch máu và gây tắc nghẽn.
Một trong những dạng phổ biến của đột quỵ do tắc nghẽn mạch máu não chính là có máu đông hình thành trong một mạch máu không sâu trong não, chặn dòng máu đến một phần của não. Nguyên nhân chính của tình trạng này là do xơ vữa động mạch từ các mảng mỡ tích tụ trong máu.
Ngoài ra còn có trường hợp các cục máu đông hoặc các mảnh vụn từ một mảng mỡ ở một bộ phận khác của cơ thể, thường là từ tim, chảy theo dòng máu và bị mắc kẹt trong một mạch máu nhỏ trong não.
- Đột quỵ do xuất huyết não (hemorrhagic stroke)
Đây là tình trạng đột quỵ xuất huyết não do mạch máu trong não bị vỡ hoặc rò rỉ, làm cho máu chảy trong não và tăng áp lực bên trong não, gây tổn thương cho các tế bào não.
Có hai loại đột quỵ do xuất huyết não:
- Đột quỵ nội sọ: Đây là tình trạng đột quỵ xuất huyết não phổ biến nhất do một mạch máu trong não bị vỡ và máu rò rỉ ra mô não xung quanh. Các nguyên nhân gây ra đột quỵ xuất huyết não nội sọ có thể bao gồm áp lực máu cao, sử dụng thuốc chống đông máu quá liều và xơ cứng động mạch.
- Đột quỵ dưới màng cứng: Đây là một trường hợp đột quỵ vô cùng nghiêm trọng do máu rò rỉ ra không gian giữa màng cứng (một lớp màng bọc quanh não) và bề mặt của não. Nguyên nhân thường gặp nhất là do mạch máu phình to rồi bị vỡ.
- Các yếu tố nguy cơ
- Những yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được làm tăng nguy cơ bị đột quỵ:
- Tăng huyết áp
- Hút thuốc lá
- Rối loạn lipid máu
- Bệnh tiểu đường
- Kháng Insulin
- Béo bụng
- Ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ
- Lạm dụng rượu
- Thiếu hoạt động thể lực
- Chế độ ăn nguy cơ cao (ví dụ: giàu chất béo bão hòa, chất béo chuyển dạng và
năng lượng)
- Căng thẳng tâm lý và xã hội (ví dụ, trầm cảm)
- Bệnh tim (đặc biệt là những bệnh lý tạo thuận cho tắc mạch, như nhồi máu cơ
tim cấp, viêm nội tâm mạc nhiễm trùng, và rung nhĩ)
- Hẹp động mạch cảnh
- Tăng đông (chỉ đột quỵ do huyết khối tắc mạch)
- Phình mạch trong sọ (chỉ chảy máu dưới nhện)
- Sử dụng một số chất nhất định (ví dụ, cocaine, amphetamines)
- Thuốc chống đông máu và thuốc chống kết tập tiểu cầu
- Viêm mạch
- Homocysteine
- Các yếu tố nguy cơ không thể thay đổi được bao gồm:
- Đột quỵ trước đó
- Tuổi cao
- Tiền sử gia đình có đột quỵ
- Chủng tộc dân tộc
- Yếu tố di truyền
